Thực trạng đời sống công nhân xuất khẩu Việt Nam ở Malaysia

Keywords for this topic
việt, malaysia, thực, thoải, khẩu, nam, xuất, trạng, sống, đời, công, nhân, báu, lặn, vẫy
Offline

Thực trạng đời sống công nhân xuất khẩu Việt Nam ở Malaysia

Postby TTL » Wed Mar 05, 2008 3:46 am

Thực trạng đời sống công nhân xuất khẩu Việt Nam ở Malaysia

2008.01.26
Đỗ Hiếu, phóng viên đài RFA


Trong khi người Việt ở các nước ngoài gửi tiền về giúp đỡ thân nhân thì nhiều người ở trong nước lại muốn ra đi bằng cách này hay cách khác. Được xuất khẩu lao động là giấc mơ mà rất nhiều người Việt mong muốn vì nghĩ rằng sẽ làm ăn thoải mái, lại dành dụm được tiền gửi về cho gia đình ở quê nhà, cho nên họ chạy vay để lo được đi lao động.


Tải xuống để nghe

Tuy nhiên, nơi xứ lạ có những cạm bẫy, lường gạt, trăm ngàn đắng cay thì nợ nần chồng chất khiến bao người tuyệt vọng, điêu đứng. Những điều vừa kể được ông Nguyễn Hưng Đạo, đại diện Uỷ Ban Bảo Vệ Người Lao Động Việt Nam tại Úc kể lại qua cuộc trao đổi với phóng viên Đỗ HIếu của Ban Việt Ngữ, Đài Á Châu Tự Do.

Đỗ Hiếu : Xin ông cho biết về chuyến công tác tại Malaysia vừa qua để tìm hiểu về hiện tình người lao động Việt Nam sang quốc gia đó kiếm ăn.

Ông Nguyễn Hưng Đạo : Thưa quý thính giả của Đài Á Châu Tự Do. Chúng tôi là Nguyễn Hưng Đạo và một người bạn đồng hành cũng trong Uỷ Ban Bảo Vệ Người Lao Động Việt Nam là anh Nguyễn Đình Hùng, chúng tôi nhận công tác của Uỷ Ban Bảo Vệ Người Lao Động Việt Nam qua bên Mã Lai. Chúng tôi ở đó 2 tuần lễ để tìm hiểu hiện tình người lao động Việt Nam, tức là ở Việt Nam đưa qua đó làm lao động đẻ kiếm tiền.

Tôi thấy họ sống không khác gì ngưòi lao nô, tức là họ sống rất là khổ, trong điều kiện lương bổng, điều kiện sinh hoạt làm việc, cũng như sinh sống hàng ngày, nó quá là thảm. Nếu người nào mà mắt thấy tai nghe có lẽ không thể cầm dựoc nước mắt khi mà nhìn thấy những người thanh niên, thiếu nữ trẻ đó bị đưa qua xứ Mã Lai, không biết tiếng Anh, không biết tiếng Hoa, không biết tiếng Mã, mà tiếp xúc với người chủ làm việc, thì họ bị ức hiếp như thế nào mà không mở đựoc lời. Đó là một hiện tượng rất là thương tâm, thưa anh Đỗ HIếu.

Đỗ Hiếu: Ông vừa nhắc tới những hiện tượng thương tâm thì ông có thể cho thính giả của Đài chúng tôi đựoc viết những điều mắt thấy tai nghe tại những địa phương ông đã đi qua.

Ông Nguyễn Hưng Đạo : Tôi thăm hỏi nhiều người ở tại nhiều địa phương trên đất nước Mã Lai mà đa số là những tỉnh và ngay cả thủ đô của nước Mã Lai là Kuala Lumpur, thì tình trạng của họ giống nhau. Giống nhau chỗ nào? Tức là họ một kết luận khi họ qua bên Mã Lai rồi, đó là họ bị gạt.

Gạt là sao? Tức là khi mà họ ở trong nước, với chính sách nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đưa ra là xoá đói giảm nghèo thì họ lập ra rất nhiều công ty môi giới; những công ty môi giới này phần nhỏ là tư nhân, phân lớn là do sở bộ của nhà nước. Ngay cả bộ đội họ cũng có những công ty môi giới đó. Những công ty này vô các làng mạc, đến các nơi nghèo, gia đình đông con, gặp những thanh niên thiếu nữ có sức lực. Họ tìm tới những nhà có miếng vườn nhỏ, một căn nhà nho nhỏ chẳng hạn thì họ đưa chính sách xoá đói giảm nghèo ra, họ hứa hẹn qua Mã Lai, qua Đài Loan, qua Hàn Quốc mà làm chừng 3 năm thì 6 tháng đầu là trả hết nợ, 2 năm rưỡi sau khi hết hợp đồng trở về Việt Nam thì thừa tiền mau xe Honda, trả hết nợ cho cha mẹ.

Điều họ đưa ra rất là hấp dẫn. Cho nên nông dân cảm thấy nếu cứ ở nơi quê nhà nghèo như vậy thì không có tiền và họ chịu đi (xuất khẩu lao động). Nhưng khi qua bên đất nước mới để làm việc như Mã Lai là nơi điển hình mà tôi đã đi qua, thì tất cả những gì đã ký trong hợp đồng, từ lương bổng tới điều kiện làm việc, cho tới chỗ ăn ở thì đều không đúng với hợp đồng. Người công nhan xuất khẩu lao động bị chèn ép đủ thứ. Như tôi vừa trình bày đó, họ không biết tiếng Mã, không biết tiếng Hoa, nên không biết kêu ca vào ai. Đôi khi họ cũng nói rằng họ cũng có đình công biểu tình nhưng mà lập tức những người cầm đầu bị đuổi về nước, những người còn lại bắt buộc phải làm việc.

Tôi có đặt câu hỏi với họ rằng vấn đề lương bổng như thế nào thì họ nói rằng hoàn toàn không giống với hợp đồng hết. Đời sống rất là khó khăn.

Có thể kể với anh Đỗ HIếu mấy mấy chỗ ở thôi đó, thì chúng tôi đên chỗ đó ở một tỉnh (tôi không nêu ra đây làm gì) thì tôi vô chỗ đó là chỗ ở của anh em công nhân đó thì đó là một cái nhà kho mà chủ hãng mướn để dành riêng cho công nhân Việt Nam ở. Chỗ ở đó chừng 50 mét vuông thôi nhưng chứa chấp tới 60 người thanh niên ở trong đó. Các giường chồng lên nhau không khác gì một trại tù. Và chỉ có một nhà tắm và một nhà cầu thôi, thành ra khi họ đi làm về thì họ không có đủ chỗ để tắm, nên họ phải chia phiên cho nhau, thậm chí có người phải 1-2 giờ sáng mới tới phiên mình. Có những trường hợp những cô thiếu nữ vừa kể vừa khóc là chỉ có một nhà tắm và một nhà cầu mà không che chắn gì hết. Đàn ông thì dễ rồi, có cái quần thì cũng tắm được, nhưng phụ nữ thì làm sao, nhưng họ vẫn phải tắm, cả năm sau mới giải quyết việc này.

Nếu mà nói nhiều hơn nữa thì không có thì giờ đủ để chúng ta nói mà cũng không có bút nào tả xiết hết. Phải tận mắt tận tai mới thấy được. Đó là nói về đời sống không thôi đó.

Còn vấn đề lương bổng thì không đúng hợp đồng rồi. Nhưng mà khi qua thì ký hợp đồng là lương ngày, tức bình thường ở Mã Lai là 18.5 ringgit. Rồi khi qua bên đó thì không phải là lương ngày nữa, mà là lương khoán, có nghĩa là làm theo sản phẩm: mình làm sản phẩm nào thì mình ăn tiền sản phẩm đó. Làm hư thì bị trừ tiền. Đôi khi có những hãng hết việc, chỉ làm một buổi thôi, thì ăn một buổi thôi còn nửa buổi anh ở nhà anh không có lương. Nhưng hai ba ngày liên tiếp, một tuần hai tuần liên tiếp mà hãng không có việc và anh tuếp tục ở nhà thì cũng không có lương, trong khi đó anh vẫn phải đóng thuế cho chính phủ Mã Lai một tháng là 100 ringgit.

Cái vấn đề người lao động Mã Lai tư được thế giới biết tới bởi chưa có thông tin nào nói rõ ràng về chuyện này cả cho nên chúng tôi thấy rằng có dịp phải nói lên vấn đề này. Đó là sự tìm hiểu của Uỷ Ban Bảo Vệ Người Lao Động Việt Nam.

Đỗ Hiếu: Thưa ông, với bao nỗi khó khăn như bị chèn ép, lừa gạt, người lao động Việt Nam có đến Sứ Quán Việt Nam tại Kuala Lumpur để xin nơi đó giúp đỡ, bảo vệ không?

Ông Nguyễn Hưng Đạo : Tôi có đặt vấn đề đó và được đa số trả lời như thế này: Bác ơi, chú ơi, chúng cháu khi đi qua bên này đã đặt ký với ngân hàng cái tiền mượn nợ đi Mã Lai từ 17 triệu cho đến 25 triệu, có người 17 triệu, có người 20 triệu, 25 triệu (đồng VN) cho công ty môi giới. Khi qua bên Mã Lai thì tiền nợ họ không có đủ để trả nếu họ sống một cách bình thường, do đó họ phải sống dè sẻn mà trả nợ.

Có nhiều trường hợp 2 năm sau mới trả hết nợ. Tất cả ạnh em đó họ trả lời như thế này: Nếu mà chúng cháu bỏ về thì tiền đâu trả nợ. Mà nếu chúng cháu tự động bỏ về thì chúng cháu phải tự xuất tiền rồi vẫn phải đóng thuế cho chính phủ Mã Lai hết một năm chúng cháu mới đựoc trở về. Trở về trong tình trạng phải mua vé phi cơ, phải đóng thuế, không có tiền trả nợ thì làm sao chúng cháu về?

Như vậy tại sao không nới lên với sứ quán? Ở đây có sứ quán đại diện cho mấy cháu đó. Tai sao cháu không nói? Thì rất nhiều những nhóm nói giống nhau là : Trời ơi, chú ơi, tụi cháu đã lên chớ, tụi cháu đâu phải là không lên đâu. Nhưng mà họ không giải quyết gì hết, thậm chí họ còn có những câu rất nặng. Chúng cháu lên đó thì nhân viên đại diện Sứ Quán CHXHCN Việt Nam họ nói nguyên văn thế này "Chúng mày làm cái gì thế. Đi về". Có nghĩa là không có giải quyết gì hết.

Đỗ Hiếu: Thưa ông, theo ý kiến của cá nhân ông cũng như của Uỷ Ban Bảo Vệ Người Lao Động Việt Nam thì tập thể người Việt hải ngoại có thể làm được gì để giúp đỡ cho những người kém may mắn mà ông vừa mới đề cập tới ?

Ông Nguyễn Hưng Đạo : Chúng tôi có những chuyên gia về vấn đề công đoàn. Uỷ Ban này mới được thành lập hồi tháng 10 năm ngoái (2006)tại Ba Lan, thì chúng tôi có những chuyên viên về công đoàn, nghiên cứu về công đoàn, về luật lao động quốc tế. Những anh em công nhân Việt Nam khi qua làm các công ty bên Mã Lai thì phần lớn đó là các công ty liên quốc gia, họ cho những nhà thầu Mã Lai thầu lại. Luật lao động quốc gia đã đành rồi nhưng còn luật lao động quốc tế nữa.

Thành ra trong phạm vi của Uỷ Ban Bảo Vệ chúng tôi biết theo các điều luật chúng tôi nghiên cứu để làm sao cho chính quyền Mã Lai chú ý tới chuyện các hãng xưởng, các công ty đã đối xử với các em không đúng để làm sao có phần nào bênh vực các em. Còn riêng với cộng đồng người Việt hải ngoại thì tôi nghĩ rằng chúng ta hãy chú ý tới họ. Cái vấn đề bênh vực của Uỷ Ban Bảo Vệ đưa ra cũng không thể nào mạnh bằng các cộng đồng ở các nơi bên Úc, bên Mỹ, bên Châu Âu, v.v. thì tiếng nói chúng ta có mạnh thì bênh vực cho các em đó.

Đây là thành phần họ rất là bất mãn, họ rất là phẫn uất không thua gì nhóm đồng bào dân oan khiếu kiện ở Việt Nam. Ở bên đó họ hoàn toàn không biết tin tức gì hết, tức họ không lên Net được, họ không đọc báo được, họ không nghe radio được, cho nên tình trạng đó chúng ta thấy đâu có khác gì ở tù đâu.

Đỗ Hiếu: Chúng tôi xin cảm ơn ông Nguyễn Hưng Đạo từ Liên Bang Úc Châu đã dành cho Đài RFA chúng tôi cuộc trao đổi vừa rồi.
User avatar
TTL
 
Users Information Users Information
 

Offline

Re: Thực trạng đời sống công nhân xuất khẩu Việt Nam ở Malaysia

Postby TTL » Wed Mar 05, 2008 4:45 am

Tâm sự của người lao động Việt Nam tại Malaysia
2008.01.28
Hưng Yên, phóng viên đài RFA


Malaysia là quốc gia tiếp nhận nhiều nhất lao động xuất khẩu từ Việt Nam, và đựơc đi làm việc tại nước ngoài vốn là ứơc mơ của không ít công nhân. Nhưng thực tế tình hình người lao động Việt Nam tại đất nước này ra sao? Phóng viên Hưng Yên của ban Việt ngữ vừa rồi có cơ hội trực tiếp quan sát và thăm hỏi một số công nhân đang lao động ở bên đó, và có bài tường trình sau đây.


Tải xuống để nghe

“Nó coi mình giống như một kẻ nô lệ cho nó chứ không có một quyền lợi nào cả. Cho nên em rất mong muốn là mình có thể đòi được quyền lợi cho mình và cho tất cả mọi người.”

Đó là lời chia sẻ của chị Nguyễn Thị Thanh, một công nhân Việt Nam đang lao động tại Malaysia nói về tình hình đối xử của chủ nhân đối với lao động Việt Nam nơi chị làm việc.

120 ngàn người lao động Việt Nam ở tại Malaysia

Với thực trạng lao động dư thừa tại Việt Nam hiện nay nên thị trường lao động nước ngoài là một trong những giải pháp quan trọng giải quyết thực trạng này. Với mức lương lao động được hưởng mà các công ty môi giới ký hợp đồng với các chủ nhân tại Mã lai theo chị Phan Thị Bé thì còn thấp hơn cả lương nhân viên dọn vệ sinh. Phải chăng vì sự dư thừa lao động trong nước nên lương lao động VN đã bị ép giá:

“Em sang đất nước Mã Lai này thì mức lương của công nhân mình không bằng lương của công nhân dọn vệ sinh của đất nước họ. Điều đó em cũng chẳng biết hỏi ai và cũng chẳng biết tại sao như thế. Những người môi giới VN tại sao lại chấp nhận điều kiện như thế để đưa người Việt Nam mình sang đây lao động? Điều đó rất là bất công. Em cũng hi vọng trong thời gian tới có người nào đó quan tâm đến vấn đề này để bớt thiệt thòi cho những người dân lao động như bọn em.”

Việt Nam hiện nay đã xuất khẩu trên 400 ngàn người sang lao động nước ngoài, mà Malaysia là nước tiếp nhận nhiều nhất và được xem là thị trường Vàng của các doanh nghiệp xuất lao động của VN do điều kiện tiếp nhận dễ dàng.

Hiện tại có khoảng trên 120 ngàn lao động VN tại Malaysia. Trong đó năm 2007 VN xuất khẩu 26,700 người giảm, 11,000 người so với năm 2006 là do lao động không mặn mà lắm với mức lương của Mã Lai so với các quốc gia khác.

Khi đi lao động tại Mã Lai, những công nhân Việt Nam phải nơm nớp lo sợ khi đối diện với cuộc sống hiểm nguy, cướp giật, giết người. Thanh nói về nổi sợ hãi của mình và bạn bè của cô:

“Chỗ tụi em ở thì chưa có anh ạ, nhưng chỗ khác như Za – Hô rất là nhiều. Chẳng hạn như các chị em đi làm về với nhau, nếu đi người đi sau tí không thấy ở đâu. Những trường hợp ấy tụi em không biết kêu ai, rồi cũng lẳng lặng sợ hãi, lần sau không dám đi như thế nữa.Những trường hợp ấy ở đây rất là nhiều anh ạ”

Thanh Hương, một nữ công nhân lao động tại Mã Lai gần một năm kể về những hiểm nguy luôn rình rập cuộc sống của cô và đồng nghiệp:

“Sang đây cuộc sống đe dọa sinh mạng của chúng ta, những người India ở đây thường cướp giật, họ cướp tiền chúng ta vì họ biết chúng ta làm có tiền. Như là cách đây 4- 5 tháng gì đó có 2 người con gái, khi mà phát hiện chết thì 2 cái đầu đã bị chặt ra bỏ vào tủ lạnh.

Nơi đó là Za-Hô, cách đây 12 tiếng đồng hồ. Khi chết thì không biết lí do vì sao, nhưng mà bị cắt đầu bỏ vào tủ lạnh. Còn nhiều người ra đường bị cướp tiền nếu không chống cự thì sinh mạng còn, nếu chống cự làm chúng phật lòng thì có thể chết.

Em có nghe nói có chỗ thì Đại sứ quán Việt Nam can thiệp nhưng không mạnh lắm, có can thiệp nhưng không được mạnh mẽ cho lắm, có nơi thì không can thiệp.”


Trong số những công nhân lao động nước ngoài có những người từng tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng tại Việt Nam nhưng họ vẫn không kiếm được việc làm hoặc việc làm không đủ trang trải cuốc sống nên họ đành phải đi lao động nước ngoài. Với anh Trí từng tốt nghiệp ngành xây dựng tại VN đi lao động Mã Lai để kiếm một chút vốn cưới vợ:

“Lúc tôi mới ra trường ở Việt Nam, đồng lương của tối rất thấp. Vì vậy tôi muốn qua đây để được đồng lương ra hơn một tí cũng đỡ trong thời gian còn trẻ. Sau 3 năm trở về tôi có một số vốn để lập gia đình và có số vốn cho riêng mình.”


Chịu nhiều hy sinh mất mát

Một thực trạng nữa đó là những công nhân đi lao động nước ngoài sau khi trở về có tỷ lệ ly hôn rất cao. Cụ thể tại thị xã Cửa Lò tỉnh nghệ An, năm 2006 1/3 số vụ ly hôn là lao động xuất khẩu. Nhiều công nhân chấp nhận sự mất mát tình yêu, hạnh phúc gia đình để đổi lấy một số tiền nhỏ sau những giờ làm việc cật lực. Thanh Hương tâm tình về điều này:

“Người Việt Nam mình qua đây mất mát tình thương của gia đình ví dụ như là những tình yêu đương chồng vợ xa cách nhau. Qua đây 100 người thì 100 người đều bị những người chồng hay những người vợ ở Việt Nam bỏ để lấy vợ, lấy chồng khác. Đổi lại họ có chút xíu tiền giúp đỡ gia đình phải mất tình yêu, mất chồng, mất vợ, mất con, mất tình thương.”

Không ít công nhân sau khi sang Mã Lai lao động đã thất vọng, muốn trở về nhưng không thể vì điều kiện ràng buộc trong hợp đống. Từ kinh nghiệm bản thân, chị Phan Thị Bé gửi lời nhắn nhủ đến với những ai trong nước muốn đi lao động tại Mã Lai:

“Em muốn nhắn nhủ mọi người, nếu họ muốn qua đây trước tiên họ phải đọc kỹ bản hợp đồng. Như chúng em đi rất là gấp và không được xem kỹ nên nhiều cái mình bị thiệt thòi. Nên mọi người hãy xem kỹ hợp đồng. Trong hợp đồng không nên ký mức lương 18 Ringit một ngày, bởi vì với số tiền đó mình không thể dư nếu không tiết kiệm.”

Điểm quan trọng trong việc ký hợp đồng lao động đối với chị Thanh là thời gian. Theo chị thì chỉ nên ký hợp đồng 1 năm sẽ có nhiều điểm lợi cho công nhân hơn:

“Mọi người sang đây chỉ nên ký hợp đồng 1 năm một chứ đừng nên ký 3 năm một. đó là điều em muốn nhắn nhủ cho những người đi sau. Tại vì đi lao động nước ngoài không đơn giản. Đi sang đây rồi nếu ký hợp đồng 3 năm, nếu 1 năm muốn về thì rất là khó vì mình phá hợp đồng, rồi bồi thường hợp đồng mà mình chưa làm được đến đâu cả.”

Người Việt sinh sống tại Mã Lai đa phần là công nhân lao động, ngoài ra còn có nhiều phụ nữ lấy chồng là người Mã Lai rồi sinh con. Ngoài những số phận không được may mắn khi lấy chồng xa xứ thì tại Mã Lai nhiều cô dâu VN đã có cuộc sống khá bình yên và có phần khá giả.

Chị Trinh đã lấy chồng và định cư tại Mã lai được gần 10 năm, hiện đang bán quần áo tại khu thương mại Bangsar, thủ đô Kuala Lumpur nói về điều này như sau:

“Bên đây thuê mướn người làm mắc mỏ, đôi khi không an toàn nên các người vợ ở nhà nội trợ chứ không phải bắt buộc như vậy. Phụ nữ Việt Nam lấy chồng bên đây thời gian đầu còn bỡ ngỡ, sau đó quen OK hết. Họ sống bên đây thoải mái lắm. bên này nhà rẻ lắm, nhà ai cũng rộng rãi ở thỏa mái. Ai cũng có nhà có cửa, nếu nghèo cũng có đầy đủ, có ti vi này kia đủ hết”.

Một số người cũng đã cố gắng vươn lên, phát triển thương mại. Chị Vân chủ nhà hàng Cung Đình sang trọng, sau khi lấy chồng người Mã Lai mở nhà hàng kinh doanh khá thành công mà chị chia sẻ, khó khăn nhất khi chị mới làm dâu xứ người là hòa nhập văn hóa gia đình chồng và việc gìn giữ tiếng Việt cho con cái nghe chừng cũng không đơn giản:

“Khó khăn nhất của chị bước đầu là hòa nhập vào văn hóa gia đình bên chồng. Tại vì văn hóa người Trung Hoa Mã Lai khác với văn hóa người Việt. Mà người Việt mình nói chung là thẳng như ruột ngựa, có sao nói vậy nên nhiều lúc cũng không được hòa đồng lắm.

Những đứa nhỏ của chị thì nói tiếng Anh, tiếng Hoa, tiếng Mã lai và chút chút tiếng Việt, không nhiều lắm. Hiểu thì nhiều nhưng nói thì chịu. nhưng mà mình nói những từ đơn giản thôi chứ những từ khó thì không hiểu đâu. Thí dụ như tụi chị nói chuyện thì mấy bé hiểu nhưng phải dịch ra tiếng Anh rồi hỏi lại mẹ xem có đúng như nghĩa của mẹ nói hay không.”


Kuala Lumpur cũng là thành phố thu hút sinh viên Việt Nam sang du học. Loan, một du học sinh tại đây đã nhận xét về đất nước và con người Mã Lai:

“Ý thức văn hóa người bên này thì cao hơn mình, người ta không xả rác ngoài đường như người Việt Nam của mình, hay là người ta đi đêm khuya đèn đỏ người ta vẫn dừng lại, đèn đỏ như Việt Nam mình thấy vắng vắng là vượt luôn. Ở đây người ta thấy đèn đỏ là dừng lại. Hơn nữa ở bên đây đường sá sạch sẽ, rộng rãi thoải mái hơn Việt Nam mình nhiều.”

Với những chia sẻ của chị Loan, Hưng Yên xin rời làn sóng với tâm tình cá nhân cầu chúc cho các anh chị công nhân luôn bình an.

Hưng Yên cám ơn sự lắng nghe quí báu của quý vị và hẹn quý vị trong chương trình lần sau.

Vừa rồi là tường trình của phóng viên Hưng Yên về tình hình người lao động Việt Nam tại Malaysia. Chúng tôi mong nhận được thêm thông tin của anh chị em công nhân đang làm việc tại đất nứơc ấy. Hãy liên lạc với chúng tôi bằng E mail về địa chỉ vietweb@rfa.org hay gọi và để lại lời nhắn tại 001 202 530 7775. Xin cảm ơn các anh chị trước.

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/ ... ysia_HYen/
User avatar
TTL
 
Users Information Users Information
 

Offline

Re: Thực trạng đời sống công nhân xuất khẩu Việt Nam ở Malaysia

Postby TTL » Sun Apr 06, 2008 3:33 am

Hãy cứu giúp lao động Việt Nam tại Malaysia

Trần Ngọc Thành - phóng sự từ Malaysia


Lại lên đường.

Từ những thông tin trong nước, chúng tôi biết được hàng chục ngàn người nghèo đang được đảng và chính phủ Việt Nam "ưu tiên” đi xuất khẩu lao động đến nước Malaysia. Vì nghèo nên họ phải đến nơi đây. Những người "giàu có hơn”, có khả năng trang trải (bằng vay mượn hoặc thế chấp) từ 120 đến 150 triệu đồng tiền việt cho các công ty môi giới sẽ đến được Hàn Quốc, Nhật Bản để bán sức lao động.

Tôi đã đến Đài Loan và Hàn Quốc, đã sống với những người "giàu có hơn” trong các container mà giới chủ thuê cho họ ăn ở, nghỉ ngơi sau giờ làm việc cực nhọc tại các công xưởng.Tôi chưa sống qua mùa đông, nhưng đã thưởng thức cái nóng, cái oi bức đến điên người của mùa hè khi phải chui rúc trong các container đó.Tôi thầm cảm phục sự chịu đựng dẻo dai của những cô gái, chàng trai đất Việt, nhưng cũng đau lòng khi nghĩ đến những bệnh tật sẽ dày vò họ sau những năm tháng sống và làm việc trong điều kiện khốn khổ như vậy.

Tôi hình dung được những gì đã và đang xẩy ra với những người Việt nghèo trên đất Malaysia.

Cuối năm ngoái, Uỷ Ban Bảo Vệ Người Lao Động (UBBV) đã cử hai chuyên viên từ Úc Châu là anh Nguyễn Đình Hùng và anh Nguyễn Hưng Đạo đến Malaysia gặp gỡ công nhân để tìm hiểu tình hình. Qua những gì hai anh chứng kiến, UBBV quyết định phải thường xuyên chú ý tới anh chi em lao động tại đây để tìm cách giúp đỡ.

Chúng tôi lại lên đường. Anh Hùng từ Sydney, tôi từ Warsaw.

Để tiết kiệm, tôi chọn đường bay rẻ tiền. Qua ba lần đổi máy bay, chúng tôi gặp nhau ở Kuala Lumpur. Vì có hẹn trước, chúng tôi gặp cô Hồng Nga, phóng viên BBC tại bến xe buýt. Kéo nhau vào tiệm cà phê chuyện trò và làm việc chớp nhoáng. Chúng tôi thoả thuận: BBC chưa vội đưa tin về công việc của UBBV tại Malaysia để tránh phiền phức và đảm bảo an toàn. Cô Hồng Nga tranh thủ gặp gỡ anh chị em công nhân gần khu vực Kuala Lumpur trước khi bay về Việt Nam. Chúng tôi lên xe buýt đi về Malaka cách Kuala Lumpur chừng 200 Km. Sau hai ngày liên tục di chuyển, tới Malaka chúng tôi mệt phờ người, vào khách sạn "nhiều sao” nghỉ ngơi lấy lại sức và bàn kế hoạch cho những ngày kế tiếp.

Malaisia cách Ba Lan 7 múi giờ, dù mệt, tôi không sao ngủ được. Sáng sớm, chúng tôi ra bến xe buýt, điểm đến là Johor Bahru cách Kuala Lumpur chừng 500Km, sát biên giới Singapore. Hôm nay là thời cơ hiếm có, chúng tôi được gặp gỡ anh chị em công nhân vào ban ngày. Linh muc Nguyễn Văn Cao từ Úc Châu qua, sẽ làm lễ thánh cho gần 1000 công nhân theo đạo Thiên Chúa ở Johor Bahru va vùng phụ cận.

Chủ nhật, hết vé xe buýt. Chúng tôi phải đi taxi với giá 250 ringgit (1), gần 80 đô la Mỹ. Ngồi trên xe tại nước Malaysia ở một miền quê hẻo lánh, tôi có cảm giác xe đang chạy trên xa lộ của nước Đức. Tốc độ trên 120Km/giờ, đường phẳng lì, láng bóng, sạch sẽ, ba làn xe mỗi chiều. Tôi từng nghe đến sự phát triển của Malaysia, của Kuala Lumpur. Đến phi trường tôi phải đi ngay, chưa có dịp chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thủ đô. Nhưng, con đường "nhà quê’’ làm tôi sửng sốt! Cái gì đã thúc đẩy sự phát triển của nước "nhược tiểu” này? Bao giờ quốc lộ I của Việt Nam mới được như vậy? Họ đâu có bác Hồ và đảng cộng sản "quang vinh”! Họ cũng đã từng bị ba "đế quốc to” là Bồ Đào Nha, Anh và Nhật xâm chiếm. Và ngày nay, họ có độc lập, dân chủ, có các đảng đối lập bên cạnh đảng cầm quyền, có bầu cử thật sự và tự do báo chí.

Đến với cộng đồng.

Johor Bahru. Sau 15 phút hỏi đường, chúng tôi gặp được anh Lập – một người đã sống và làm việc tại Malaysia được 4 năm, thân quen với anh Hùng từ lần đi trước, hợp tác với UBBV, tình nguyện giúp đỡ anh chị em công nhân từ lâu nay – dẫn tới Thánh Đường, nơi anh chi em đang tập trung làm lễ.

Những tiếp xúc đầu tiên không mấy thiện cảm: "Các chú từ Việt Nam qua?”- "Các chú là công ty môi giới?”- "Các chú từ Sứ Quán?”. Tôi ngậm ngùi và hiểu họ. Dù ba ngày đi đường thiếu ngủ, mệt mỏi, nhưng so với những chàng trai, cô gái tuổi từ 21 đến trên dưới 30, chúng tôi vẫn là những người to cao, trắng trẻo và béo tốt! Thật không ngoa tý nào khi người ta nói về sự khốn cùng của người lao động tại đây. Họ cũng ngạc nhiên, tại sao lại có những người "vô công rồi nghề” từ Úc, từ Ba Lan lặn lội đến đây.


Chuyện trò ngoài hàng rào khu nhà trọ - Ảnh: TNT
--------------------------------------------------------------------------------

Qua những cuộc trò chuyện sau này, chúng tôi thông cảm, chia sẻ với những uất ức của họ khi họ nhắc đến những từ như "công ty môi giới” hay "đại sứ quán Việt Nam”.

Cả ngàn người gặp nhau ở đây, một số cùng làm việc với nhau, trong cùng một công ty hay các khu lân cận, nhưng đều đến từ những miền quê của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, họ đến vì cùng một lý do, cùng một hoàn cảnh: Nghèo. Anh Vinh quê ở Hải Dương, chị Vĩ Bắc Giang, anh Hào Nghệ An, anh Quang Hà Tĩnh...Không một miền quê nào thiếu người đại diện. Những chàng trai, cô gái, cần mẩn, siêng năng, chịu thương, chịu khó nhưng thiếu đất sống ở quê nhà: Không có tiền để vào đai học, không có tiền lo lót để vào cơ quan nhà nước, vào làm công nhân tại các xí nghiệp có chủ nước ngoài cũng chẳng dễ dàng gì.

Lời chào mời thật hấp dẫn: "Chính sách xoá đối giảm nghèo của đảng và nhà nước ưu tiên người nghèo đi xuất khẩu lao động, sau ba năm xuất ngoại trở về sẽ trở thành những người giàu có...” Tiền đồ tươi sáng trong những cái loa tuyên truyền, những lời ngọt ngào từ cửa miệng những đại gia môi giới với cái mác "cộng hoà xã hội chủ nghĩa” đó làm cho họ quyết chí ra đi. 20 hay 30 triệu cho các thủ tục và cho công ty môi giới. Không có tiền? Dễ ợt! Vay ngân hàng lãi xuất với 1,2% tháng, thế chấp nhà cửa, vườn ruộng. Xong ngay. Nhiều chị ngậm ngùi để lại 2, 3 đứa con cho người chồng bệnh tật ở quê lên đường với niềm hy vọng đổi đời. Sự thật phủ phàng đã cướp đi những nụ cười hồn nhiên, vô tư của tuổi trẻ:

- "Cháu sang đây đã hơn hai năm, làm chẳng đủ ăn, làm sao trả hết nợ được chú”; - "Công ty của cháu hợp đồng một đường làm một nẻo, chủ bảo đấy là hợp đồng với môi giới gọi môi giới mà hỏi, còn đây là yêu cầu của công ty, làm thì làm không làm thì nộp phạt 2000 ringit, tự mua vé máy bay mà về Việt Nam. Trời ơi! 2000 ringgit hơn 600 đô la mỹ tiền phạt, rồi tiền vé máy bay, 30 triệu tiền nợ lãi. Lấy đâu?

Gọi điện cho môi giới: "Xin lỗi quý khách số này hiện nay không liên lạc được, xin quý khách gọi lại sau”.

Gọi lại sau! Gọi lại sau, "cái sau” nào cũng vậy. Công ty môi giới đã đóng cửa, giám đốc đã lặn rồi. Có thể giờ đây họ đang làm giám đốc một công ty môi giới mới với một cái tên mới, oách hơn. Đành ở lại, nhắm mắt đưa chân, 12, 15 tiếng một ngày, làm gì cũng được, ở đâu cũng đươc, ăn gì cũng đươc, miễn sao có được chút tiền để trả nợ lãi ở quê.

Cậu Ánh bảo tôi: "Nếu có điều kiện chú nên đi thăm anh Trần Văn Đài, đồng hương với cháu bị tai nạn lao động đứt cả bàn tay, mới 24 tuổi đầu, tội nghiệp lắm”. Tôi và Ánh ra đường vẫy taxi, đi 15 phút hết 15 ringgit đến nhà trọ của Đài. Tình cảm của những người đồng hương xa quê thật đáng quý, gần 30 người đang tụ tập liên hoan tiễn Đài về quê. Tôi gặp Đài, một chàng trai đầy nghị lực, các ngón bàn tay trái bị chặt. "cháu bi tai nạn đã được 8 tháng. Chủ cho tiền chữa trị và tiền vé máy bay. Cháu về nước nhưng chẳng còn tiền, ban bè giúp đỡ mỗi người một ít, nhưng ai cũng nghèo. Rồi đây mất một bàn tay, cháu biết làm gì hở chú?”

Tôi động viên cháu, rút ví giúp cháu một ít tiền, rất nhỏ so với thu nhập của người Việt bình thường ở Ba Lan. Nhưng, với những công nhân ở đây, phải làm việc cật lực hơn nửa tháng. Cháu ôm chầm lấy tôi, tôi tạm biệt cháu mà chẳng dám hứa điều gì.

Cũng tại Johor Bahru, tôi gặp môt chàng trai khác: Anh Mạnh quê ở Hương Sơn, Hà Tĩnh. Cách đây 6 tháng, khi đang làm việc bị mạt sắt bắn vào mắt. Không có bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, phải tự xoay tiền để chữa trị, 4 lần đi bệnh viện ở Kuala Lumpur để khám và mổ, bao nhiêu tiền làm việc lâu nay không đủ để chữa mắt, Mạnh phải vay chủ 4000ringgit để trả tiền thuốc men và viện phí. Chủ đồng ý cho vay nhưng với điều kiện Mạnh phải làm việc để có lương trừ nợ. Một mắt đau đang thời gian điều trị, cứ hai giờ phải tra thuốc một lần. Sau một thời gian đi làm, Mạnh không chịu nổi, quyết định trốn chủ về quê nhưng không có tiền. Linh mục Cao giúp Mạnh mua vé máy bay, tôi cũng giúp cháu một ít.

Còn nhiều số phận khác tương tự tôi sẽ gặp nay mai. Mạnh đã về Việt Nam, đã đến viện mắt Hà Tây để khám.

Những cuộc gặp gỡ lúc nửa đêm.

Thế là qua một ngày chia sẻ, cảm thông với những người con xa Mẹ, vất vả xứ người tại Johor Bahru. Các bạn trẻ nơi đây đã đồng ý với chúng tôi: Muốn chiến thắng sự đày đoạ, áp bức, khổ nhục, phải đoàn kết. Trong số hàng ngàn người, không phải ai cũng biết tiếng Malaysia, phải có người đại diện. Đoàn kết là vũ khí hiệu quả nhất của những người thấp cổ bé họng trước những ông chủ tham lam, không có lương tri, khi thấy tiền là mờ mắt.

Chúng tôi lên xe buýt về cùng với anh chị em, dự định ghé thăm những người đồng hương, làm việc tại xí nghiệp may ở Batu Pahat. Trên xe, các bạn trẻ can ngăn: Các chú cẩn thận, ở đây nguy hiểm lắm, không nên qua đêm. Họ kể cho chúng tôi nghe những chuyện cướp bóc dọc đường, trấn lột, anh chị em khi đi làm về, đột nhập vào nhà, thậm chí vào khách sạn ăn cướp do những băng nhóm tội phạm người Việt cấu kết với người Indonesia nhằm vào người lao động Việt Nam và lao động nhập cư từ các nước khác.

Chúng tôi nghe lời, tìm phương tiện để về Malaka. Trời sắp tối, không còn xe buýt, xe taxi rất nhiều nhưng không ai chịu chở. "Về đêm nguy hiểm lắm”! Cánh taxi, dân thổ địa ai cũng lắc đầu. Chạy đi chạy lại, cuối cùng, một chàng gốc Ấn độ đen thui, to cao, dáng bặm trợn đồng ý với giá 250 ringgit, xấp xỉ 80 đô. Vì sợ về trễ nên hắn ta chạy như ma đuổi. Xe Mersedes cà tàng, tối trời mà hắn phóng tốc độ 120 cây. Ơn Trời, chúng tôi về đến khách sạn an toàn. Đã 1 giờ 30 đêm. Mệt rã rời, không thèm thay quần áo, anh em chúng tôi kéo một mạch đến trưa. Lại chuẩn bị cho chuyến đi sắp tới đến "vùng sâu, vùng xa”.

Muốn gặp được những công nhân làm việc tại Malaysia, đi ban ngày không có cơ hội, hầu như tất cả đồng hương Việt Nam đều làm việc 12 đến 15 tiếng mỗi ngày, bắt đầu từ 8 giờ sáng. Thời gian gặp gỡ lý tưởng nhất là lúc 12 giờ đêm, lúc đó họ đã về, đã nấu nướng, ăn uống xong. Cũng phải tiếp chuyện thật nhanh, cuốn gói sớm để họ còn đi ngủ lấy sức để ngày mai cày tiếp. Lại 12 tiếng, 15 tiếng mà lương đâu có nhiều. 26 ngày quần quật, hết ngày dài lại đêm thâu, chủ trừ trước, chủ phạt sau, nhiều lắm họ chỉ được còn 120 đên 150 đô la Mỹ. "Thế là phúc lắm rồi chú”. Có nhiều kiểu phạt nghe rất tức cười nhưng ra nước mắt: Một cô bé tuổi mới qua thời "bẻ gãy sừng trâu” chưa lâu, làm việc đói quá, giờ giải lao lượm một quả xoài rụng trong sân công ty, bị bảo vệ bắt được, chủ phạt 1200 ringit và doạ đuổi việc.

Trước khi tôi bay qua đây, anh Hùng thông báo: Hình như đồng hương ở Malaysia không có điều kiện ăn Tết cổ truyền. Tôi phóng xe ra chợ "Sân vận động 10 năm” mua 4 bánh chưng và 1 ký giò chả, chồng sách báo và mấy băng đĩa nhạc. Anh Hùng cũng mang một vali báo, mấy băng đĩa DVD Asia, trong đó có bài "Khóc Mẹ Dân Oan”. Hôm đến Johor Bahru chúng tôi chỉ mang theo báo, không dám mang bánh chưng. Một ngàn người, chỉ vài cái bánh chưng đưa ra ngượng chết. Chúng tôi chia ra làm quà cho nhưng anh chị em những nhóm it người gọi là hương vị quê hương. Lại gọi taxi lên đường đến những "vùng xa”.

Chúng tôi đến chỗ ở của chị em lúc 9 giờ đêm. Do có hẹn trước, Đông, một cô gái Sóc Trăng, cáo ốm nghỉ sớm, đạp xe ra đường lớn đón chúng tôi: "Các chú cố gắng ngồi chờ, chắc hơn tiếng nữa chị em sẽ về”.

Chín chị em trong mọt căn nhà lộp tôn, dưới nắng trưa hè, chắc chúng ta hình dung được cái nóng ra sao. May thay, chị em chỉ "nhờ vả” nó từ 12 giờ đêm đến 7 giờ sáng. Sau 14, 15 tiếng cực nhọc, nằm xuống là ngủ ngay, hơi sức đâu để ý đến nóng hay lạnh. Đông nấu cơm cho cả nhà, chúng tôi chờ chị em đi làm về và tranh thủ hỏi chuyện: Nhà Đông thuộc diện dưới nghèo, nên được vay ngân hàng lãi suất 0,5% tháng. – „Ưu tiên đó chú, hầu hết chị em đều phải vay lãi suất 1,2% tháng. Cháu sang đây gần 2 năm nhưng vẫn chưa trả hết nợ. Ở nhà cực lắm nhưng sang đây còn cực hơn, trả xong nợ là cháu sẽ về’’...Chín chị em mỗi người mỗi cảnh, quê đủ cả ba miền Bắc, Trung Nam, được cái thương yêu, nhường nhịn và giúp đỡ lẫn nhau. Cơm đã chín, chúng tôi cố chờ, một tiếng, 2 tiếng,...”Thế đấy các chú ạ, các chị tranh thủ làm thêm để kiếm chút tiền còm. Các chú có đến đây mới hiểu được và thông cảm cho các cháu”. Chúng tôi ra về, không dám làm phiền chị em. Giấc ngủ ngắn ngủi nhưng vô cùng quý giá đối với họ. Đến khách sạn lại 1 giờ 30 sáng.

Biết chúng tôi đến đây, nhiều anh chị em viết thư nhờ người mang đến, nói lên cảnh khổ của đơn vị mình và yêu cầu giúp đỡ. Họ gọi chúng tôi là tổ chức công đoàn quốc tế. Chúng tôi cố sắp xếp thời gian, đến thăm và động viên họ, dù buổi tối hay lúc nửa đêm.


7 chị em trong số công nhân đã bị bán qua 5 lần chủ - Ảnh: TNT
--------------------------------------------------------------------------------

130 ngàn con người, 130 ngàn số phận, trải dài, trải rộng trên khắp đất nước Malaysia. Chúng tôi nhận đươc thư của cô Hoàng Thị Hiền, quê Hà Tĩnh, đại diện cho mấy chục chị em bị giới chủ bán chuyền tay, đến lần thứ 5 qua 5 công ty. Hàng tháng lại bị chủ trừ 50 ringit, từ tiền lương cho chủ cũ. Đã có lúc, hàng tháng trời chị em không có việc làm, không có tiền, không có gạo ăn, phải vào rừng hái rau, ăn sắn, ăn khoai trừ bữa, không biết kêu ai. Gọi về môi giới Việt Nam không ai trả lời, đến sứ quán Việt Nam không ai tiếp. Lợi dụng tình cảnh của chị em, chủ trước bán cho chủ sau như những món hàng. "Vô lý lắm các chú ạ, nhưng biết kêu ai bây giờ” . Thế đấy! Biết kêu ai bây giờ. Chúng tôi đi đến đâu cũng gặp điều vô lý: Công ty may, công ty điện tử, công ty bánh kẹo, v.v… vô lý mọi lúc, vô lý mọi nơi.

Chúng tôi lại đến thăm anh chị em công ty may ở ngoại ô Kuala Lumpur, chuyện trò với anh chị em ngoài hàng rào khu nhà trọ. Muỗi nhiều quá, tôi bị đốt hết sưng cả hai tay. Anh Hùng ít bi muỗi cắn hơn. Chắc người Úc ăn nhiều thịt Kanguru nên muỗi Malaysia nó sợ. Tại đây, nhiều anh em bỏ ra làm ngoài vì không chịu nổi, quá nhiều bất công, quá nhiều vô lý. Chúng tôi được biết anh Lâm Văn Có, quê ở Hải Phòng, vay tiền với lãi suất cao để đươc đi lao động. Sang đây, theo yêu cầu của môi giới Việt Nam, chủ trừ tiền lương hàng tháng để trả cho môi giới. Theo hoá đơn của chủ, số tiền vay đã trả hết từ lâu nhưng chủ cứ tiếp tục trừ. "vì yêu cầu của phía Việt Nam” (!). Không cãi được, sự chịu đựng có hạn, anh bỏ ra làm ngoài. Nhiều anh chị em xa nhà đã 6 năm, nhưng chưa một lần về nước, dù Kuala Lumpur cách Sài Gòn chỉ hơn một tiếng bay.

Báo chí Việt Nam gần đây đưa tin về nhưng vụ trấn lột, cướp của, giết người dã man do những công nhân Việt Nam bỏ hợp đồng ra ngoài bất hợp pháp gây ra. Lãnh đạo phía Việt Nam phủi tay, đại sứ quán phủi tay, quản lý lao động phủi tay, môi giới phủi tay. Tất cả tội lỗi đều trút hết lên đầu những tên tội phạm. Nhưng ai đã làm thủ tục, thu tiền để xuất khẩu những tội phạm sang đây? Chẳng lẽ công an khu vực, công an các cấp không nắm được hồ sơ của các tội phạm? Hay hộ chiếu, hợp đồng của tội phạm được bán cao gấp nhiều lần so với người bình thường? Tội phạm đâu phải một vài tên. Ai đã đẩy những công nhân như Lâm Văn Có vào bước đường cùng. Người công nhân khốn khổ vì lao động cực nhọc, bị chủ hà liếp lại luôn luôn nơm nớp lo sợ khi phải ra đường. Sợ cướp, sợ cảnh sát. Tất cả hộ chiếu của người lao động đều bị chủ giữ, có sự thoả thuận của phía Việt Nam, Nhiều công nhân phải nộp phạt cho cảnh sát vì không có giấy tờ tuỳ thân. Nhiều trường hợp bị nhốt cả tuần lẽ vì không có giấy tờ, không có cả tiền nên cảnh sát giam cho bõ ghét.

Trách nhiệm thuộc về ai?

Tuy chưa gặp gỡ hết 130 ngàn con người, nhưng chúng tôi đã đi nhiều nơi, gặp gỡ anh chị em đủ mọi thành phần, mọi hoàn cảnh. Những chứng cứ chúng tôi có đủ trong tay. Chúng tôi quyết định đến gặp lãnh đạo Tổng Liên Đoàn Lao Đông Malaysia ở thủ đô Kuala Lumpur. Anh Nguyễn Đình Hùng gọi điện hẹn gặp, họ đồng ý tiếp chúng tôi.

Lại tranh thủ lên đường.

Những người lãnh đạo Liên Đoàn Lao Động Malaysia đôn hậu, vui vẻ và nhiệt tình. Tiếp chúng tôi là Tổng Thư Ký Tổng Liên Đoàn Lao Động Malaysia Ông G. Rajasekaran và ông M.Ethayakumar phụ trách lao động
Với ông Tổng thư ký Liên Đoàn Lao Động Malaysia - Ảnh: TNT
--------------------------------------------------------------------------------

nhập cư. Chúng tôi thay mặt hàng chục ngàn công nhân Việt Nam, tố khổ và kể khổ với ông Tổng Thư Ký và người đồng sự. Sau hơn 30 phút lắng nghe, ông Tổng Thư Ký nói: Chúng tôi đã nghe đã biết những điều các ông nói. Chúng tôi chờ đợi sự lên tiếng từ phía Việt Nam nhưng họ yên lặng. Cách đây 2 năm, năm 2005, chúng tôi được chứng kiến cảnh hơn 600 công nhân Việt Nam đói khát cực nhọc, tập trung kêu cứu trước Đại sứ quán Việt Nam ở Kuala Lumpur. Chúng tôi đã mời đại diện Sứ quán Việt Nam đến để bàn bạc. Chúng tôi đề nghị phía Việt Nam lên tiếng để chúng tôi có cơ sở can thiệp. Nhưng, đại diện Sứ quán Việt Nam nói: "Chúng tôi không dám lên tiếng, nếu chúng tôi lên tiếng thì phía Malaysia sẽ ngừng tiếp nhận lao động Việt Nam."

Ông Tổng Thư Ký nhún vai và đưa hai tay lên trời.

Thế đấy! Cháy nhà mới ra mặt chuột. Ông Tổng Thư Ký hứa là sẽ cùng với UBBV giúp đỡ công nhân. Chúng tôi tin lời ông. Chắc 3 triệu người Việt trong cộng đồng Hải Ngoại sẽ sát cánh cùng chúng tôi. Tạm biệt các ông, chúng tôi sẽ trở lại cùng với các ông để cứu giúp những đồng hương của chúng tôi. Chúng tôi đã vơi đi một phần nỗi buồn và sự lo âu, có lẽ tối nay, chúng tôi ăn sẽ ngon hơn và ngủ sẽ yên hơn.

Chúng tôi đã trao cho ông bản copy hợp đồng lao động bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Trong một bản hợp đồng tiếng Việt, Điều 8 điểm 2 cấm công nhân đình công, biểu tình, lãn công dưới mọi hình thức. Đây có lẽ là điểm then chốt để giới chủ Malaysia lợi dụng để chèn ép và bốc lột công nhân.

Điều 8 điểm 8: Cấm nói xấu Việt Nam…Có lẽ các bạn nghe xong chắc sẽ tức cười. Nói xấu Việt Nam! Cái bóng ma "xấu” nó ám ảnh lãnh đạo đảng cộng sản mọi lúc, mọi nơi. Trong nước, họ nuôi dưỡng một đội ngũ công an hùng hậu bằng tiền thuế của dân để cấm dân "nói xấu”; 600 tờ báo không được "nói xấu”. Khi công dân đã ra nước ngoài lao động, không thể đưa theo được lực lượng hùng hậu này nên họ cho điều khoản "cấm nói xấu” vào hợp đồng lao động.

Ở Malaysia này, chúng tôi không thấy một công nhân nào nói xấu ai cả. Họ chỉ nói lên sự thật: Sự thật vay tiền lãi suất cao, sự thật làm việc cực nhọc nơi đây, sự thật ốm đau bệnh tật, sự thật không được ai từ phía Việt Nam quan tâm. Những sự thật đó đã được ông Tổng Thư Ký Tông Liên Đoàn Malaysia xác nhận: "Họ sợ lên tiếng…”

Điều 18 điểm 5 trong một bản hợp đồng bằng tiếng Anh, nghiêm cấm công nhân Việt Nam liên hệ hoặc tham gia nghiệp đoàn lao động Malaysia. Trong nước, chính quyền quản lý, kiềm chế công nhân bằng công đoàn nhà nước. Ra nước ngoài, họ không xuất khẩu được công đoàn nên cấm công nhân liên hệ với những người đồng nghiệp nước sở tại, khiến công nhân trở thành những con cừu non giữa đàn sói chủ tham lam, phần lớn là người gốc Hoa.

Liên Hợp Quốc và Chính phủ các nước viện trợ cho Việt Nam hàng tỷ đô la để "xoá đói giảm nghèo”. Số tiền đó đáng ra phải dùng để tạo công ăn việc làm cho người nghèo, giúp họ giảm nghèo trên chính quê hương họ chứ không phải để các quan tham chia nhau còn người nghèo được "ưu tiên” vay lãi suất 0,5 % tháng và đẩy đi làm nô lệ. Công nhân bị bóc lột, bị làm làm nhục, bị đánh đập; công nhân bị chết. Các quan tham coi là chuyện bình thường.

Khi trả lời phỏng vấn báo Tuổi trẻ ngày 05 tháng 3 năm 2008 về việc nhiều công nhân Việt Nam tai Malaysia bị chêt, ông Thứ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và xã hội Nguyễn Thanh Hoà đã lấp liếm và nói dối nhiều điều...Theo nhưng gì chúng tôi được biết qua phản ánh của anh chi em công nhân thuộc nhiều đơn vị: Từ khi "xuất khẩu” được công nhân sang đây, tuyệt đại đa số Công ty môi giới coi như hết trách nhiệm. Tiền, thầy đã bỏ túi, còn "sống chết mặc bay”. Công nhân chết, công nhân bị thương không ai đoái hoài đến, trừ những người bạn cùng làm, những người đồng hương tốt bụng. Anh Võ Văn Yên quê Yên Thành, Nghệ an, từ mấy tháng nay phải sống chui lủi, nhờ sự giúp đõ của bạn bè. Trong một cuộc cãi cọ, bạn anh bị bọn côn đồ chém vỡ đầu, may không chết, đầu phải khâu sáu mũi. Cảnh sát yêu cầu làm chứng, anh biết tên tội phạm nên đứng ra làm chứng. Tên tôi phạm bị giam vài ngày, sau đó được thả và doạ sẽ giết anh. Đã nhiều lần anh cầu cứu Sứ quán nhưng không ai giải quyết. Anh muốn trốn về Việt Nam nhưng chủ giữ hộ chiếu, bắt phải nộp 2000 ringgit. Anh không có tiền. May thay, Linh mục Cao giúp anh tiền chuộc hộ chiếu và vé máy bay, tôi cũng giúp anh chút ít, bao nhiêu năm vất vả xứ người anh vẫn trắng tay.

Từ năm 2004 đến nay có 315 công nhân Việt Nam bị chết, riêng năm 2007 có 107 người. Phần lớn người chết đều còn rất trẻ, là lao động chính trong nhà. Ông Thứ trưởng đổ lỗi cho “việc khám sức khoẻ cho lao động đi Malaysia quá đơn giản” (!). Sư thật có đúng vậy không? Công nhân phải làm việc liên tục 15 tiếng mỗi ngày thậm chí 24 tiếng, từ 8 giờ sáng hôm nay đến 8 giờ sáng hôm sau, nghỉ đến một giờ chiều lại đi làm tiếp, ăn uống không có gì. Đến 2 giờ sáng chủ cho một tý cơm nấu theo kiểu Mã lai, chẳng ai nuốt nổi. Ngày tiếp ngày, tháng tiếp tháng. Sức người chứ đâu phải gỗ thép. Nhiều người ốm yếu, xanh xao, sau nửa đêm đi làm về, cầm bát cơm không ăn nổi, họ đặt xuống đi nằm. Nhiều người nằm không bao giờ dậy. Nếu chính phủ Việt Nam và những người có liên quan, không nhìn nhận nguyên nhân thấu đáo, chắc chắn số người chết sẽ tăng lên chứ không giảm như ông Thứ trưởng nói.

Nhiều người tuy chết đã lâu, đến nay vẫn chưa được đền bù, nhất là những trường hợp chết tại nhà trọ. UBBV sẽ vào cuộc. Một trong những điều chúng tôi đòi hỏi là Chính phủ Malaysia phải có trách nhiệm điều tra lại cái chết của 315 anh chi em công nhân Việt Nam trong 4 năm qua và phải bồi thường thoả đáng; đưa ra Toà những chủ nhân vi phạm mà chúng tôi đã thu thập được bằng chứng.

UBBV may mắn có được những cán bộ tâm huyết, nhiệt tình như các anh Đoàn Việt Trung, anh Nguyễn Đình Hùng, anh Nguyễn Hưng Đạo, anh Bùi Trọng Cường ở Úc châu, anh Nguyễn Cao Quyền ở Mỹ…

UBBV cũng nhận được sự yểm trợ vô tư, thầm lặng của Báo Người Việt, của Việt Tide- SaigonLittleRadio.

Để tránh tổn thất người và không ngừng phát triển, UBBV hoạt động lặng lẽ, âm thầm. Đã có hàng ngàn tờ báo giấy "Bảo Vệ Lao Động" đến với công nhân từ Bắc chí Nam; Đã và sẽ có hàng ngàn, hàng vạn tờ đến với công nhân ở Malaysia và các nơi khác. Tuy nhiên, vì không “sôi động”nên những công việc của UBBV it được Cộng đồng Người Việt quan tâm và hỗ trợ. Cộng đồng thường chỉ chú ý đến những “hoạt động ồn ào”. Các cán bộ của UB nhiều khi đi công tác bằng ngân quỹ trích từ sổ tiết kiệm gia đình.

Tiếng chuông báo động phải được gióng liên hồi.

Vừa qua, ông Nguyễn Đình Thắng (chủ tịch ủy ban Cứu Người Vươt Biển) đã kết hợp hình thành “Liên minh bài trừ nô lệ mới ở Á châu” (CAMSA) đấu tranh có hiệu quả cho 2600 công nhân trong đó có 1300 người Việt đươc bồi thường. Vẫn còn hàng chục ngàn nạn nhân như vậy.

Máu chảy, ruột mềm. Họ cũng đều là con Hồng, cháu Lạc. Nếu chúng ta làm ngơ, mặc cho số phận của họ, sẽ có hàng triệu “Nô lệ mới” được tiếp tục “xuất khẩu” đi các nước Ả Rập và nhiều nơi khác.

Ba triệu đồng bào Hải ngoại chắc chắn chẳng làm ngơ.

Malaysia tháng 3 năm 2008.

http://www.danchimviet.com/php/modules. ... e&sid=4876
User avatar
TTL
 
Users Information Users Information
 

Offline

Re: Thực trạng đời sống công nhân xuất khẩu Việt Nam ở Malaysia

Postby thường dân » Sun Apr 06, 2008 3:36 am

Ý kiến độc giả: Tiên sư 10 đời nhà thằng Hồ tặc, Hồ chó đẻ , Hồ quỷ , Hồ ma.. và cái đảng hyenas của mày


NVHN tiếp cứu thì cái đảng chó má này sẽ phủi tay & tiếp tục bán thêm dân nữa => Rồi cái vòng lẩn quẩn này sẽ dẫn tới đâu????

The right solution : Triệt cái đảng hyenas này và sẽ giải quyết được tận gốc.
User avatar
thường dân
 
Users Information Users Information
 


Similar topics

Return to Xuất Cảng Lao Động & Buôn Người

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 0 guests

cron