HỒ CHÍ MINH - Nhận Định Tổng Hợp
Keywords for this topic
xẩy, chóc, khâm, đôn, rắc, hợp, chí, tổng, nhận, định, minh, tiệc, cẩm HỒ CHÍ MINH - Nhận Định Tổng HợpHỒ CHÍ MINH
Nhận Định Tổng Hợp Tác phẩm nghiên cứu Của Nhà Biên Khảo MINH VÕ Tủ Sách TIẾNG QUÊ HƯƠNG Virginia xuất bản 2003 MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU PHẦN I: NHẬN ĐỊNH VỀ HỒ CHÍ MINH - từ một số tác phẩm loại tiểu sử Chương 1: WILLIAM J. DUIKER và Ho Chi Minh, a life Chương 2: JEAN LACOUTURE và HCM, A Political Biography Chương 3: PIERRE BROCHEUX và Hồ Chí Minh Chương 4: DAVID HALBERSTAM và Ho Chương 5: BERNARD FALL và Ho Chi Minh on Revolution Chương 6: JEAN SAINTENY và Face à Ho Chi Minh Chương 7: TƯỞNG VĨNH KÍNH và Hồ Chí Minh tại Trung Quốc Chương 8: SOPHIE QUINN-JUDGE và Ho Chi Minh, the missing years Chương 9: TRẦN DÂN TIÊN và Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch Chương 10: HỒNG HÀ và Bác Hồ trên đất nước Lê Nin Chương 11: PHÙNG THẾ TÀI và Bác Hồ, những kỷ niệm không quên Chương 12: NGUYỄN KHẮC HUYÊN và Vision accomplished ? Chương 13: NHÓM ĐƯỜNG MỚI và HCM, sự thật về thân thế và sự nghiệp Chương 14: HOÀNG QUỐC KỲ và Ma đầu Hồ Chí Minh Chương 15: NGUYỄN THUYÊN và Bộ mặt thật của Hồ Chí Minh Chương 16: VIỆT THƯỜNG và Con Yêu Râu Xanh Chương 17: NGUYỄN PHƯƠNG MINH và HCM tên phản quốc số một của thời đại PHẦN II: NHẬN ĐỊNH VỀ HỒ CHÍ MINH - từ một số tác phẩm viết về cuộc chiến VN Chương 18: 6 TÁC GIẢ và Le Livre Noir du Communisme Chương 19: JOSEPH BUTTINGER và Vietnam: The Unforgettable Tragedy Chương 20: DOUGLAS PIKE và History of VN Communism Chương 21: ROBERT SHAPLEN và The Lost Revolution Chương 22: MICHEL TAURIAC và Viet Nam, le dossier noir du Communisme Chương 23: P. J. HONEY và Communism in North Việt Nam Chương 24: PHILLIP B. DAVIDSON và Vietnam At War Chương 25: ELLEN HAMMER và The Struggle For Indochina Chương 26: DANIEL ELLSBERG và Secret Chương 27: DENNIS J. DUNCANSON và Government and Revolution in Viet Nam Chương 28: P. DEVILLERS & J. LACOUTURE và La Fin d’une Guerre Chương 29: DENIS WARNER và The Last Confucian Chương 30: VÕ NGUYÊN GIÁP và Những năm tháng không thể nào quên Chương 31: NGUYỄN THỊ BÌNH và Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng MNVN Chương 32: TRẦN VĂN GIÀU và Sự phát triển tư tưởng tại Việt Nam Chương 33: HOÀNG VĂN HOAN và Giọt Nước Trong Biển Cả Chương 34: SƠN TÙNG và bài nói về Hồ Chí Minh Chương 35: HOÀNG TÙNG và HCM, Trung Quốc và Liên Xô Chương 36: BÙI TÍN và Vietnam, la face cachée du régime Chương 37: NGUYỄN MINH CẦN và Đảng Cộng Sản Việt Nam … Chương 38: VŨ THƯ HIÊN và Đêm giữa ban ngày Chương 39: BẢO ĐẠI và Con rồng Việt Nam Chương 40: TRẦN GIA PHỤNG và Án Tích Cộng Sản Việt Nam Chương 41: ĐỖ MẠNH TRI và Di sản Mác-xít tại Việt Nam Chương 42: MỘT SỐ TÁC GIẢ KHÁC PHẦN III: MỘT SỐ VẤN ĐỀ về trách nhiệm của HỒ CHÍ MINH Chương 43: Bối cảnh chiến tranh ý thức hệ của tình hình Việt Nam Chương 44: HỒ CHÍ MINH và sự du nhập chủ nghĩa Cộng Sản vào Việt Nam Chương 45: HỒ CHÍ MINH và vụ bán Phan Bội Châu cho Pháp Chương 46: HỒ CHÍ MINH từ Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 tới Cải Cách Ruộng Đất 1953 Chương 47: HỒ CHÍ MINH và Mặt trận Việt Minh Chương 48: HỒ CHÍ MINH và tình trạng bị thủ hạ khống chế Chương 49: HỒ CHÍ MINH và cuộc sống thánh thiện Chương 50: HỒ CHÍ MINH và Tito Việt Nam? Chương 51: HỒ CHÍ MINH và vị đại anh hùng ái quốc Chương 52: LỜI CUỐI SÁCH Phụ Lục Thơ Mục
Re: HỒ CHÍ MINH - Nhận Định Tổng HợpLời Nói Đầu
Từng nghe nói trong mỗi con người luôn tiềm ẩn một thiên thần và một ác quỷ. Nhưng con người không phải là thần cũng chẳng phải là quỷ. Lý tưởng mà con người theo đuổi, thành quả mà con người đạt được cùng với hành vi biểu hiện cuộc sống của con người sẽ cho phép nhận diện con người nghiêng về phía thần hay về phía quỷ. Điều này càng đúng khi áp dụng với những người đấu tranh chính trị. Mục tiêu mà họ theo đuổi, phương thức dành quyền lực mà họ thi thố, quyền lực mà họ vận dụng, ảnh hưởng vai trò của họ tác động vào sinh hoạt xã hội nói chung ... chính là nền tảng cụ thể nhất để đánh giá họ nghiêng về phía nào. Hồ Chí Minh là người tham gia đấu tranh chính trị và là một nhân vật lịch sử Việt Nam. Thời kỳ đấu tranh của Hồ Chí Minh cũng là thời kỳ lịch sử Việt Nam gắn liền với nhiều biến cố trọng đại của thế giới trong thế kỷ 20. Vì thế, Hồ Chí Minh còn được coi là một nhân vật lịch sử của thế giới trong thế kỷ vừa qua. Nhưng, có những nhân vật lịch sử thường xuyên hiện ra giữa ánh sáng chói chang thì cũng có những nhân vật lịch sử luôn lẩn khuất sau nhiều lớp sa mù. Có những nhân vật lịch sử hoàn toàn trở thành dấu tích dĩ vãng ngay sau khi từ giã cõi đời thì cũng có những nhân vật lịch sử tiếp tục tác động vào mọi sinh hoạt của nhiều thế hệ tiếp nối. Hồ Chí Minh không nằm trong số nhân vật lịch sử mau chóng trở thành dĩ vãng. Ông trút hơi thở cuối cùng từ ngày 2 tháng 9 năm 1969, nhưng gần như vẫn có mặt trong từng biến cố của Việt Nam sau ngày đó. Hồ Chí Minh cũng không nằm trong số nhân vật lịch sử mà toàn bộ cuộc sống và con người là những trang sách luôn mở rộng cho bất kỳ ai muốn tìm đọc. Cuộc sống và con người Hồ Chí Minh lẩn khuất sau nhiều lớp màn che với những màu sắc trái ngược để luôn là một bí ẩn giữa những huyền thoại. Chính vì thế, Hồ Chí Minh trở thành đối tượng được diễn tả theo nhiều cách khác biệt, thậm chí trái ngược như ngày với đêm, như trắng với đen. Nhiều nhà văn, nhà báo, nhà viết sử trên thế giới đã coi Hồ Chí Minh là một chính trị gia tài ba, một người nặng tinh thần quốc gia chủ nghĩa hơn là tinh thần quốc tế chủ nghĩa dù Hồ Chí Minh là người cộng sản. Một số tác giả còn đi xa hơn không ngần ngại gọi Hồ Chí Minh là nhà ái quốc của Việt Nam. Đa số các tác giả này đều nghĩ rằng Hồ Chí Minh đã được toàn thể hoặc ít nhất là phần lớn dân chúng Việt Nam tôn kính và tin tưởng. Nhiều tác giả đã nhắc tiếng “Bác” mà người dân Việt Nam dùng gọi Hồ Chí Minh, nhắc chuyện Hồ Chí Minh được sùng bái như một vị thần, được dân chúng ở vài nơi lập miếu thờ và coi đó như bằng chứng xác minh nhận định của họ là trong trái tim người dân Việt Nam, Hồ Chí Minh đã có vị thế của một “lãnh tụ vĩ đại”, một “anh hùng cứu quốc”, một “cha già dân tộc”... Đồng thời, không thiếu những người cầm bút khác lại nhìn Hồ Chí Minh như kẻ đại phản quốc đối với dân tộc Việt Nam. Dưới mắt những tác giả này, Hồ Chí Minh đã say mê lý tưởng cộng sản tới mức sẵn sàng đưa đất nước và đồng bào vào những thảm cảnh đau đớn cùng tột để cố giành thắng lợi cho Khối Đệ Tam Quốc Tế trong cuộc đối đầu với các quốc gia Tây Phương. Không những thế, Hồ Chí Minh còn là con người tàn ác xảo trá, trọn đời là một chuỗi dài thủ đoạn hiểm độc. Chứng cớ viện dẫn cho nhận định này là hành vi sát hại các nhà ái quốc vào thời gian trước và sau 1945 để nắm độc quyền lãnh đạo, hành vi bịp bợm tuyên bố giải tán Đảng Cộng Sản năm 1945, hành vi dối gạt dư luận tự tô vẽ một bề ngoài thánh thiện trong khi sống nhầy nhụa như một kẻ vô luân, hành vi tắm máu nửa triệu người vô tội với chính sách cải cách ruộng đất thời khoảng 1953-1955, hành vi cưỡng chiếm miền Nam bằng võ lực gây nên cuộc chiến đẫm máu suốt 20 năm, và trên hết là sự đẩy lui đất nước vào cảnh sống đọa đày trong ngu dốt, đói nghèo và ngục tù áp chế cho tới ngày nay... Tất nhiên, theo những tác giả này, hình tượng Hồ Chí Minh trong trái tim người dân Việt Nam chỉ có thể diễn tả bằng những từ thóa mạ đã xuất hiện ngay từ 1945-46 như “cáo Hồ”, “quỷ vương”, “ma đầu”... Bằng chứng cao hơn hết cho sự khiếp hãi và lòng thù hận của người dân Việt Nam đối với Hồ Chí Minh là sự kiện hàng triệu người bỏ trốn khỏi miền Bắc năm 1954 và ít nhất hơn hai triệu người đã bất chấp mọi nỗi hiểm nghèo, kể cả sóng gió đại dương, bỏ quê hương vượt biển ra đi sau ngày 30.4.1975. Tóm lại, ý kiến nhận định về Hồ Chí Minh rải rác trong hàng trăm tác phẩm viết về chiến tranh Việt Nam và về tiểu sử Hồ Chí Minh được chia làm hai loại rõ rệt, hoàn toàn trái ngược. Một bên coi ông như thần tượng, một bên coi ông là "tên phản quốc số một của thời đại". Sự kiện này không chỉ xảy ra với riêng Hồ Chí Minh và có thể dễ dàng gạt qua nếu Hồ Chí Minh không thuộc hàng ngũ đấu tranh chính trị, tức cuộc sống và hành vi của ông không gắn liền với các biến cố chung trong một giai đoạn lịch sử. Ở trường hợp này, dù ông là thiên thần hay ác quỉ thì ảnh hưởng lớn nhất vẫn không vượt khỏi giới hạn thúc đẩy sự ngưỡng mộ hay khinh ghét đối với riêng một cá nhân biệt lập. Sự ngưỡng mộ hay khinh ghét dành cho một nghệ sĩ chẳng hạn không trở thành mối bận tâm của xã hội, vì đó là biểu hiện quyền tự do và không hề dẫn tới những nhận định sai lạc về các biến cố chung đã diễn ra. Sự kiện này vẫn có thể gạt qua dù Hồ Chí Minh thuộc hàng ngũ đấu tranh chính trị nhưng nằm trong số những nhân vật lịch sử đã hoàn toàn trở thành dĩ vãng. Những bạo chúa như Tần Thủy Hoàng, Neron... những lãnh tụ tàn ác như Hitler, Staline... ngay giờ phút này vẫn có thể còn được một số người ngưỡng mộ và tiếp tục là đề tài ca ngợi của một số người cầm bút nào đó trên thế giới. Nhưng việc bày tỏ sự ngưỡng mộ những nhân vật này và sự xuất hiện các tác phẩm ca ngợi họ không thể khiến đổi ngược thực chất mọi biến cố mà họ từng tham dự. Đồng thời, dù được chiếu sáng bằng ánh hào quang nào thì họ cũng không thể vượt khỏi vai trò dấu tích của một thời đã khuất để tác động nổi vào tiến trình sinh hoạt chung của xã hội hiện nay. Hồ Chí Minh nằm ngoài cả hai trường hợp trên. Với tư cách chính trị gia, con người và hoạt động của Hồ Chí Minh gắn kết với hàng loạt biến cố có tầm mức xoay chuyển hẳn chiều hướng sinh hoạt xã hội Việt Nam suốt hơn nửa thế kỷ qua. Không thể bác bỏ dấu ấn Hồ Chí Minh trên thực tế Việt Nam kể từ đầu thập niên 1940 hay nói một cách khác, lịch sử Việt Nam từ thời điểm trên không thể tách khỏi con người và hành động của Hồ Chí Minh. Nhu cầu đánh giá chính xác các biến cố đương nhiên bao gồm nhu cầu đánh giá chính xác về con người và hành động của Hồ Chí Minh. Tác động hỗ tương giữa người và việc ở đây rất rõ ràng. Điều này đã lý giải sự trạng có một số đông người cầm bút trên thế giới viết về Hồ Chí Minh. Con người và tên tuổi Hồ Chí Minh chưa hẳn đủ tầm vóc khiến nổi số người trên chọn đề tài Hồ Chí Minh, nhưng mức tác động vào đời sống thế giới của vấn đề Việt Nam từ nửa thế kỷ qua đòi hỏi phải được tìm hiểu thấu đáo và trong tiến trình đánh giá các biến cố tại Việt Nam, các tác giả không thể không đánh giá về nhân vật Hồ Chí Minh. Tiến trình đánh giá các biến cố tại Việt Nam chưa dừng lại vì nhiều ẩn số vẫn chưa tìm được giải đáp dứt khoát. Chứng cớ cụ thể là đang hiện diện song song hai lối nhìn trái ngược về Hồ Chí Minh. Cần xác định ngay rằng sự hiện diện hai lối nhìn trái ngược về riêng một con người không phải động cơ chủ yếu thúc đẩy việc tiếp tục nhận dạng Hồ Chí Minh. Nhận dạng Hồ Chí Minh hoàn toàn không cần thiết nếu nằm ngoài ý nghĩa là một đoạn đường trên con đường nhận dạng một thời kỳ lịch sử. Vấn đề được đặt ra, và bắt buộc phải đặt ra, chính là yêu cầu thẩm định chính xác về mọi biến cố tại Việt Nam, trong đó không thể bỏ qua sự thẩm định chính xác về nhân vật Hồ Chí Minh. Yêu cầu trên càng khẩn thiết do tính nối dài liên tục của những biến cố khởi đầu từ thập niên 1940. Cho tới nay, thực tế và tương lai Việt Nam không chỉ in hằn dấu vết những biến cố đã qua mà tiếp tục bị nhào nặn, bị khuôn nén bởi chính những biến cố đó. Nếu hình dung Việt Nam như một con thuyền thì con thuyền Việt Nam chưa ra khỏi cảnh ngộ quay cuồng giữa cơn lũ dấy lên từ hơn nửa thế kỷ qua. Điều kiện tất yếu cho nỗ lực định hướng vượt qua sóng gió để thuận mái xuôi dòng chính là sự đáp ứng đòi hỏi nhận thức chính xác về cơn lũ. Ngoài ra, sự hiện diện của Hồ Chí Minh trong các biến cố đang tiếp diễn tại Việt Nam là điều không thể phủ nhận. Tính tới nay, Hồ Chí Minh đã qua đời tròn 34 năm, nhưng dưới chế độ hiện nay trong nước, từng ngày từng giờ tên Hồ Chí Minh vẫn được nhắc nhở như ánh sáng soi đường cho mọi công việc và khuôn mẫu sống cho mọi lứa tuổi, từ trẻ đến già. Hồ Chí Minh không chỉ là dấu ấn trên thực tế của một thời kỳ mà tiếp tục là động cơ chi phối thực tế xã hội Việt Nam. Vì thế, việc nhận dạng Hồ Chí Minh còn vượt xa thêm khỏi ý nghĩa một đoạn đường nhận dạng các biến cố lịch sử. Phải nhận dạng Hồ Chí Minh, nếu muốn đánh giá chính xác các biến cố đã và đang diễn ra trên đất nước Việt Nam. Và, càng phải nhận dạng Hồ Chí Minh, nếu muốn đánh giá chính xác hướng tương lai của đời sống Việt Nam dưới ảnh hưởng trùm lấp mọi phương diện sinh hoạt xã hội của ông. Đây là hai động cơ chủ yếu thúc đẩy sự hình thành nội dung cuốn sách này – nhận dạng một con người đã và đang tiếp tục chi phối đời sống Việt Nam để góp phần nhận dạng một giai đoạn lịch sử, đồng thời góp phần đánh giá chính xác chiều hướng diễn biến của thực tế xã hội Việt Nam hiện nay. * Qua nhận định của những tác phẩm mà chúng tôi được đọc, nhân vật Hồ Chí Minh đã được quan sát từ nhiều góc độ và được khắc họa bằng nhiều màu sắc. Chân dung nhân vật Hồ Chí Minh không chỉ là một hình tượng mà bao gồm toàn bộ khía cạnh sống của con người từ tâm tưởng, ý chí, lời lẽ, hành vi, tương quan, sự nghiệp ... thậm chí gồm cả những nét diễn tả theo huyền thoại và theo cảm xúc riêng của một số người viết. Tất nhiên, các góc độ quan sát khác biệt đã đưa đến những bức chân dung khác biệt và không thể có sự tương hợp hoàn toàn giữa các bức chân dung. Nhưng mức độ khác biệt dù mở lớn tới cùng cực vẫn chỉ đặt vào mọi bức chân dung hai màu sắc chủ yếu để có thể phân thành hai loại tương phản như đã nhắc ở trên. Lý do nào khiến xuất hiện hai loại chân dung Hồ Chí Minh tương phản như thế? Bằng cách nghĩ bình thường, người ta dễ dàng cho rằng sự kiện trên chỉ do thế đứng đối nghịch của các tác giả trong tình trạng phân tranh từng diễn ra tại Việt Nam. Ngay từ tháng 8-1945, chính trường Việt Nam đã có sự đối đầu giữa những người chọn chủ nghĩa Cộng Sản làm lý tưởng và những người tham gia đấu tranh với tinh thần quốc gia yêu nước. Cuộc phân tranh kéo dài đã tác động vào hướng suy tư của nhiều người cầm bút trên thế giới và dần dần hình thành thái độ hỗ trợ phía này hoặc phía khác. Các tác giả thuộc phe Cộng Sản hoặc nghiêng về phe này dĩ nhiên phải ca tụng Hồ Chí Minh, phải tìm thấy ở nhân vật này mọi đức tính của một con người cao cả, một bậc anh hùng. Ngược lại, các tác giả thuộc phe đối kháng không thể nhìn nhận Hồ Chí Minh là người yêu nước vì vai trò cán bộ Quốc Tế Cộng Sản của ông ta và không ngần ngại đổ hết mọi sự tàn ác gian trá lên đầu kẻ tiêu biểu cho phe đã đánh bại mình. Sự thực có giản dị như vậy không? Đành rằng không thể phủ nhận thái độ hận thù do phe phái, nhưng không thể vì thế mà dễ dàng đẩy hết người trên khắp thế giới vào phe này hay phe kia để tùy tiện đánh giá mọi nhận định đã được phát biểu. Trong thực tế, bên cạnh những người cộng sản Việt Nam vốn là thủ hạ của Hồ Chí Minh cầm bút ca ngợi lãnh tụ vẫn có nhiều người cầm bút trên thế giới không hề đứng chung trận tuyến với họ có cái nhìn về Hồ Chí Minh phần nào tương hợp với họ. Đồng thời, bên cạnh những người Việt Nam thù hận Cộng Sản sẵn sàng thóa mạ Hồ Chí Minh cũng có không ít người cầm bút trên thế giới chưa từng chọn thế đứng chống đối Cộng Sản đã khắc họa Hồ Chí Minh như một tai họa đối với dân tộc Việt Nam. Hơn nữa, trong số những tác phẩm xóa bỏ các huyền thoại tô vẽ cho Hồ Chí Minh và coi ông ta như một kẻ xảo quyệt, tham tàn lại có những tác phẩm mà tác giả chính là người cộng sản Việt Nam. Cũng không thể quên rằng nhiều tài liệu được các tác giả dùng làm cơ sở cho nhận định chính là tài liệu được lưu trữ hoặc công bố bởi các cơ quan hay giới chức từ Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh. Thái độ thù hận phe phái dù là một thực tế nhưng không đủ để lý giải sự nhận định trái ngược đang có về Hồ Chí Minh. Theo thiển kiến, nhận định trái ngược này xuất phát từ quan niệm khác nhau về lý tưởng và tiếp theo là quan niệm khác nhau về lý tưởng mà Hồ Chí Minh theo đuổi. Sự đánh giá cao lý tưởng cộng sản với mục đích đấu tranh giai cấp trên toàn thế giới hay đánh giá cao lý tưởng quốc gia với mục đích đấu tranh giải phóng dân tộc là nền tảng thứ nhất hình thành cái nhìn khác biệt về Hồ Chí Minh. Nền tảng thứ hai hình thành cái nhìn khác biệt là sự xác định về lý tưởng của bản thân Hồ Chí Minh. Dù Hồ Chí Minh là cán bộ của Đệ Tam Quốc Tế với những nhiệm vụ rõ rệt được trao phó từ Liên Xô nhưng vẫn có người cho rằng Hồ Chí Minh không theo con đường đấu tranh giai cấp mà là một người yêu nước. Những nhận định khởi từ nền tảng thứ nhất có thể dễ dàng giải thích bằng thế đứng nghiêng về phía này hay phía khác và cũng dễ dàng thẩm định mức độ chân xác do dụng ý đề cao hoặc hạ thấp đối tượng. Từ nền tảng này, thế đứng của người cầm bút luôn giữ vai trò quyết định sự hình thành các nhận định được phát biểu trong khi yêu cầu khắc họa chính xác về đối tượng có thể sẵn sàng bị gạt bỏ nếu cần thiết. Những nhận định khởi từ nền tảng thứ hai không nằm trong vòng chi phối của các thế đứng nghiêng về phía này hay phía khác nên có thể kể là biểu hiện hoàn toàn hướng nhìn chủ quan của người cầm bút. Nhưng hướng nhìn chủ quan của bất kể cá nhân nào cũng không thoát khỏi qui luật hình thành dựa trên tác động của mọi mặt diễn hóa sự sống bao gồm từ cảnh ngộ, tâm tư riêng biệt của từng cá nhân tới khung cảnh thực tế chung của thời đại thông qua cách tiếp nhận cũng hoàn toàn riêng biệt của từng cá nhân. Một thảm cảnh chiến tranh, một hành vi tranh đấu, một lời nói dịu dàng, một giai thoại cảm động hay vóc dáng, cử chỉ của một nhân vật nào đó... luôn ghi lại dấu ấn khác nhau trong tâm tư của các đối tượng để từ đó dẫn tới những hướng nhận định không thể tương hợp. Những nhận định trái ngược từ nền tảng này rất khó khăn cho nỗ lực giải thích và thẩm định mức chân xác vì không giới hạn theo một định hướng và vô cùng phức tạp. Dù vậy, đối diện với những nhận định đã có về Hồ Chí Minh vẫn là bước bắt buộc phải qua để xóa những lớp mây mù che khuất một khuôn mặt thật đầy bí ẩn hầu có thể hoàn tất cái công việc nhận dạng chính xác về một nhân vật lịch sử mà nhu cầu thực tế Việt Nam đang đòi phải đáp ứng. Chúng tôi sẽ cố gắng xem xét tất cả những nhận định trên từ nhiều góc độ, phân tích trên cả 3 phương diện lịch sử, chiến lược sách lược và chủ thuyết với mong ước đi tới một nhận định tổng hợp thể hiện mức chính xác hơn. Khi dùng từ tổng hợp, chúng tôi đã nhớ tới từ ngoại ngữ synthétique hay synthetical và có thể khiến bạn đọc liên tưởng tới các từ synthèse hay synthesis vừa có nghĩa khoa học vừa có nghĩa triết học đã được biết trong quá trình biện chứng tam cấp của Hégel: Đề (thèse), Phản Đề (antithèse), và Hợp Đề hay Tổng Đề (synthèse) (1). Sự liên tưởng như vậy không có hại gì, vì trong hàng trăm tác phẩm viết về Hồ Chí Minh, hoặc hàng ngàn câu nói ca tụng hay chỉ trích ông, quả tình, nói chung, có hai xu hướng trái ngược nhau, như đề với phản đề. Nếu từ đó đưa ra một nhận xét cân bằng hơn thì cũng là một thứ tổng đề hay hợp đề nào đó. Nghĩa khoa học của từ tổng hợp (synthèse) thì biểu hiện cụ thể bằng công việc tại các phòng thí nghiệm: phân tích (analyse, analysis) và tổng hợp (synthèse, synthesis). Đem nước phân tích sẽ thành khinh khí và dưỡng khí. Đem 2 chất khí này tổng hợp theo tỷ lệ H2O sẽ có nước. Như vậy tổng hợp khác hẳn tổng cộng và càng khác với pha trộn (mélange). Chính trong khái niệm đó, chúng tôi chọn từ tổng hợp với ý nghĩ xác định không theo đuổi công việc pha trộn hay chỉ đúc kết, tổng cộng các nhận định đã được phát biểu về Hồ Chí Minh. Nhưng việc phân tích và tổng hợp khoa học luôn đòi phải có chất xúc tác thì việc nhận dạng một con người không thể thiếu nhận thức về môi trường sống của con người đó. Tác động hỗ tương giữa môi trường sống và con người không chỉ giúp xác định mức chính xác của các biến cố liên hệ đến con người mà còn giúp thấu triệt quá trình hình thành những nét đặc trưng của chính con người. Môi trường của một con người luôn thay đổi theo thời gian và con người cũng có thể liên tục thay đổi môi trường nên việc đáp ứng nhu cầu nhận thức về khía cạnh này đòi hỏi không thể rời xa những thay đổi đó. Một cách cụ thể, để nhận dạng Hồ Chí Minh, bắt buộc phải nhìn lại những môi trường sống của ông khi còn là cậu bé Nguyễn Sinh Cung tự Cuông hay Coong hay Bé Con, khi mang tên Nguyễn Tất Thành để đến trường cho tới lúc xuất dương, khi mang tên Ba ở trên tàu biển, khi mang tên Nguyễn Ái Quốc ở Pháp chung với các nhà cách mạng Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh (và có thể cả Phan Châu Trinh), khi một mình mang cái tên đó, khi lấy tên Lý Thụy, Vương, Tống Văn Sơ, Hồ Quang... ở Trung Hoa và ở Xiêm, khi chọn cái tên cuối cùng Hồ Chí Minh “để ghi nhớ không nguôi người vợ Trung Hoa Tăng Tuyết Minh”, một nữ hộ sinh Kitô giáo, một đảng viên cộng sản trung kiên và một người chung tình.(**) Tất nhiên khi nhận dạng một nhân vật đấu tranh, những ghi nhận về môi trường sống không thể khuôn hạn trong thực trạng sinh hoạt kinh tế, xã hội, văn hóa mà bắt buộc phải mở rộng qua phạm vi chính trị với những ghi nhận chính xác về các biến cố, các lực lượng cùng các chủ thuyết, các chiến lược sách lược đấu tranh... Thiếu những ghi nhận trên, bức tường trở ngại sẽ trở thành bất khả vượt với độ cao vòi vọi. Bởi vì, bằng cách nào để nhận dạng nhân vật Hồ Chí Minh khi không thấu hiểu về chủ nghĩa cộng sản, không thấu hiểu về chiến lược sách lược của tổ chức Đệ Tam Quốc Tế (cụ thể là Liên Xô), không thấu hiểu về cách thức Cộng Sản thu dụng, đào tạo Hồ Chí Minh cùng nhiệm vụ ông đã nhận lãnh? Và bằng cách nào để nhận dạng Hồ Chí Minh, khi không thấu hiểu về tổ chức Đảng và Chính Phủ do ông lãnh đạo, không thấu hiểu về chủ trương đường lối của ông trong cuộc chiến Việt Nam, không thấu hiểu về cái chế độ mà ông đã để lại như một di sản? Ý thức về yêu cầu đó khiến chúng tôi hiểu rằng dù chọn từ tổng hợp để định danh cho công việc của mình, giới hạn hiểu biết của chúng tôi khó cho phép chúng tôi vượt qua mức độ chỉ góp phần cho nỗ lực tiến tới một nhận định tổng hợp về Hồ Chí Minh. * Về suy luận, chúng tôi phối hợp phương pháp cổ điển giản đơn của Aristote (384–322 B.C) từng phổ cập bởi các triết gia lớn như Saint Thomas Aquinas (1225-1274), René Descartes (1596-1650)... với biện chứng pháp của Friedrich Hégel (1770-1831), duy vật biện chứng của Karl Marx (1818-1883), suy diễn theo cả diễn dịch pháp (deduction) lẫn quy nạp pháp (induction), vừa khởi từ các nguyên tắc cơ bản của chủ thuyết để đi tới những sự kiện cụ thể, vừa đi ngược từ những sự kiện cụ thể trở về các nguyên tắc cơ bản của chủ thuyết. Nói một cách nôm na, xét cây để hiểu quả, và ngược lại, xem quả để biết cây. Đây là một con đường gập ghềnh, nhưng chúng tôi không còn chọn lựa nào khác để có thể đạt kết quả tương đối hợp với mong mỏi. Chúng tôi hy vọng phương pháp này sẽ giúp vượt khỏi khuyết điểm võ đoán rất thường xẩy ra với tất cả mọi người để góp phần tích cực vào công việc loại bỏ những đám mây mù cho tới lúc này vẫn không ngừng che phủ nhân vật Hồ Chí Minh và vì thế vẫn tiếp tục ngăn trở mọi nỗ lực đánh giá chính xác về thực tế lịch sử Việt Nam nửa thế kỷ qua. Nhưng chúng tôi đạt được mức độ nào trong công việc vẫn là vấn đề của thực tế và hoàn toàn theo sự lượng định của bạn đọc. * Nội dung sách được chia làm 3 phần. Phần I và II giới thiệu và phân tích sơ lược về những tác phẩm viết về đề tài Hồ Chí Minh đã xuất bản, gồm 2 loại: Loại tiểu sử và loại nhận định. Mỗi loại này đều được chia thành 2 theo phân loại tác giả: – 1. Tác giả ngoại quốc – 2. Tác giả Việt Nam. Những tác phẩm được giới thiệu hầu hết đều trên dưới 500 trang với nội dung đa dạng và phức tạp. Do đó, chúng tôi chỉ tóm tắt những ý kiến trực tiếp liên hệ đến nhân vật Hồ Chí Minh hoặc giúp tìm hiểu bối cảnh sống của Hồ Chí Minh. Dĩ nhiên cuộc chiến Việt Nam, đảng CSVN, Quốc Tế CS, chủ nghĩa CS, chiến lược chiến thuật CS ... đều là những bối cảnh cần lưu ý. Việc chọn lọc và trưng dẫn ý kiến của các tác giả tùy theo nhu cầu của đề tài và mục đích của cuốn sách. Có những ý chúng tôi trưng dẫn nhiều lần có thể do được nhiều tác giả cùng lập lại, có thể do muốn nhấn mạnh sự tương đồng hay dị biệt giữa các tác giả và cũng có thể do dụng ý để độc giả tự giải thích lý do tại sao đã có sự đồng ý hoặc bất đồng về một vấn đề nào đó. Khi chọn giới thiệu các tác phẩm, chúng tôi không đặt nặng vấn đề xu hướng chính trị mà trước tiên dựa vào tầm vóc nội dung và mức độ đóng góp cho vấn đề nhận dạng Hồ Chí Minh. Tuy vậy nếu xét về xu hướng đối nghịch của các tác giả được giới thiệu, chúng tôi vẫn giữ được mức tỷ lệ tương đối cân bằng. Thực ra, ngoài các tác giả đứng hẳn về một phe rõ rệt, thái độ chính trị của các tác giả, dù có thể gọi là đối nghịch, vẫn rất đa dạng thay đổi từ cực tả sang cực hữu hoặc ngược lại với nhiều sắc thái khác nhau. Chúng tôi cũng không gạt bỏ một số tác giả thực sự là thủ hạ của Hồ Chí Minh hoặc một số tác giả chống đối không che dấu thái độ hằn học với ông Hồ, dù sự việc này có thể khiến những nhà nghiên cứu không đồng ý vì phải đối diện với thái độ tôn sùng quá độ hoặc những từ ngữ thiếu tao nhã. Theo chúng tôi, thái độ tôn sùng mù quáng của thủ hạ cũng có thể phản ảnh phần nào tính cách của nhân vật trong khi giữa thảm họa chết chóc, đau thương xẩy ra với hàng chục triệu sinh linh, tiếng nói của các nạn nhân hay nhân chứng từng trải những cảnh tàn bạo khủng khiếp, biểu hiện sự phẫn nộ và lòng đau xót cũng có một giá trị đóng góp tích cực cho công việc nhận dạng nhân vật có cuộc đời gắn liền với sự trạng đó. Trong Phần III, chúng tôi chắt lọc một số ý kiến khác nhau cùng những dữ kiện đa dạng mà các tác giả cung cấp đã được giới thiệu nơi phần I và II để tìm lời giải thích cho mọi vấn đề liên quan đến nhân vật Hồ Chí Minh và cuộc chiến tranh Việt Nam theo hướng góp phần giúp độc giả đánh giá một cách tổng hợp về nhân vật này. Ý kiến của các tác giả rất phức tạp, vừa trái ngược gay gắt vừa bao gồm từ cực tả sang cực hữu vừa mở rộng liên quan đến rất nhiều vấn đề. Trong nỗ lực của mình, chúng tôi đã tập trung các ý kiến đó trong một số điểm chủ yếu thường gây tranh cãi như sau: – Hồ Chí Minh là quốc gia hay cộng sản? – Hồ Chí Minh đã có thể là một Tito Việt Nam? – Hồ Chí Minh có chịu trách nhiệm về việc bán đứng nhà cách mạng Phan Bội Châu, về phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, về cuộc cải cách ruộng đất đẫm máu, về vụ Tết Mậu Thân...? – Hồ Chí Minh là người có lòng nhân ái hay chỉ khéo đóng kịch? – Hồ Chí Minh đã bị Lê Duẩn, Lê Đức Thọ lấn át kiềm chế nên gây ra cuộc chiến đẫm máu sau 1954? – Nếu Hồ Chí Minh còn sống đến 1975, tình hình Việt Nam đã tốt đẹp hơn?... Những vấn đề nêu trên sẽ được lý giải trong các chương của Phần III. CHÚ THÍCH: __________________________ (01) Về sau Karl Marx, học trò của Hégel, cho là duy tâm nên đã biến chế ra một quá trình "tam cấp" khác của biện chứng pháp duy vật: Quyết thể (affirmation), Hủy thể (négation) và Hủy thể của hủy thể (négation de la négation). Hay Khẳng Định, Phủ Định và Phủ Định của Phủ Định. (02) Theo tác giả Trung Cộng Hoàng Tranh cho biết năm 2001
Re: HỒ CHÍ MINH - Nhận Định Tổng Hợp* Chương 01 * WILLIAM J. DUIKER và Ho Chi Minh, a life Tuần báo Far Eastern Economic Review – Kinh Tế Viễn Đông số ra ngày 8-8-2002 bị hạn chế phổ biến tại Hànội vì đăng một bài có tựa đề Các nhà kiểm duyệt bàn cãi về tiểu sử ông Hồ. Sự việc này đã dẫn tới lời qua tiếng lại giữa hãng thông tấn Reuters và phát ngôn viên ngoại giao Phan Thúy Thanh của Hà Nội. Chung quy chỉ vì tác phẩm Ho Chi Minh, a life (1)của William J. Duiker mà một số người tại Hà Nội có ý định dịch ra tiếng Việt. Ngoài lời tán tụng của một số sử gia Mỹ nổi tiếng như Douglas Pike, Marilyn Young, tờ Washington Post đã nhận định tác phẩm của William J. Duiker “có lẽ đầy đủ và có uy tín nhất từ trước đến nay” trong các sách nói về Hồ Chí Minh. Stanley Karnow, nhà báo lão thành trở thành sử gia tên tuổi với cuốn Vietnam, a history cũng viết “Người ta đã viết nhiều về Hồ Chí Minh, nhưng chưa có cuốn nào bằng (equals) cuốn của W. J. Duiker”. Chữ bằng ở đây có thể được hiểu theo nhiều nghĩa: Hay, hấp dẫn, nhiều chi tiết mới hoặc nhiều trang nhất. Quả tình cho tới nay chưa có cuốn tiểu sử Hồ Chí Minh nào nhiều trang như cuốn này: 700 trang khổ lớn. Để hoàn thành tác phẩm, Duiker đã dành 20 năm cho việc đọc và gặp gỡ những tác giả đi trước, những nhân chứng, những người cầm bút ở Mỹ, Úc, Âu châu, Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản... Ông nêu ra hàng loạt tên tuổi, trong đó phần lớn là viên chức các cơ quan tại Hà Nội như Viện Mác Lênin, Viện Sử Học, Đại Học Hà Nội và những nhân vật Cộng Sản Việt Nam mà ông gọi là các học giả và nhà nghiên cứu thường quan tâm tới Hồ Chí Minh hay tới cuộc cách mạng Việt Nam. Một số người còn được ông nêu đích danh như Nguyễn Huy Hoàn ở Viện Bảo Tàng Hồ Chí Minh, Trần Thanh, bốn nhà sử học Phùng Hữu Phu, Lê Mậu Hân, Phạm Xanh, Phạm Công Tùng cùng các nhân vật Hà Huy Giáp, Đặng Xuân Kỳ, Đỗ Quang Hưng, Ngô Phương Ba, Văn Tạo, Trần Hữu Đính, kể cả Lưu Doãn Huỳnh thuộc Viện Liên Lạc Quốc Tế của Cộng Sản Việt Nam .... Cuối lời Tựa, tác giả "tha thiết mãi mãi cám ơn Yvonne (2) tỏ ra kiên nhẫn chịu đựng ông Hồ, người đã trở thành gần như một thành viên của gia đình"… Những lời trên cho thấy tác giả chẳng những sống với nhân vật của mình mà còn lôi cuốn cả vợ con chia xẻ tình cảm của mình đối với ông Hồ. Rõ ràng phải cảm phục ông Hồ lắm, tác giả mới có thể kết thúc tác phẩm như sau: “Bất kể cuối cùng người đời phán xét về di sản của ông để lại cho dân tộc mình ra sao, ông Hồ đã chiếm được một chỗ trong ngôi đền thờ những anh hùng cách mạng từng đấu tranh mạnh mẽ để những người cùng khổ trên thế giới có được tiếng nói đích thực của họ” (3). Duiker trách nhà cầm quyền Paris và Washington “đã bỏ lỡ cơ hội không nắm tay Hồ Chí Minh khi ông này giơ tay cho họ bắt, để đến nỗi đem lại hậu quả thảm khốc cho nhân dân Việt Nam và cho cả thế giới.” (4) Theo Duiker, chính tổng thống Truman chịu phần lớn trách nhiệm về tình hình Việt Nam do hành vi năm 1945 bác bỏ lá thư của Hồ Chí Minh xin Hoa Kỳ ủng hộ khi ông mới chân ướt chân ráo về nước. Tác giả nhìn lại thời điểm này qua tường trình, báo cáo của mấy nhân vật trung cấp Hoa Kỳ có dịp tiếp xúc với Hồ Chí Minh những năm 1945-46 như Archimedes Patti, Charles Fenn vốn là những người ngay thẳng, không có kinh nghiệm về cung cách ứng xử của ông Hồ. Thực ra, cũng khó quyết đoán là Duiker quá tin ở những tài liệu trên để nghĩ như thế hay ông đã dùng những tài liệu trên như điểm tựa cho ý nghĩ vốn có của mình mà người đọc có thể lượng trước qua sự cảm phục đối với nhân vật Hồ Chí Minh. Khi xây dựng tác phẩm, Duiker đã được tài trợ để qua Việt Nam, qua Liên Xô thu góp tài liệu, đồng thời lại có sẵn tài liệu của nhiều tác giả đi trước. Khối tài liệu mà ông sử dụng hết sức dồi dào và đa dạng vì bao gồm từ tài liệu chính thống tới tài liệu đả phá do ông tham khảo ở một vài tác giả chống Cộng. Khi phân tích tài liệu, Duiker luôn tỏ ra vô tư bằng cách nêu lên nhiều giả thuyết trái ngược, nhưng phần lớn kết luận của ông bao giờ cũng ngả theo tài liệu chính thống trước các nghi vấn đang gây tranh cãi. Chẳng hạn trong nghi vấn về vụ nhà cách mạng lão thành Phan Bội Châu bị mật thám Pháp bắt, Duiker đưa ra rất nhiều lời biện bạch để cho rằng chính Nguyễn Thượng Huyền, một người thân tín của cụ Phan, đã báo cho Pháp bắt cụ Phan chứ không phải Lâm Đức Thụ là kẻ cộng tác mật thiết với Hồ Chí Minh như sử gia Phạm Văn Sơn hay tác giả Hoàng Văn Chí và nhiều tác giả khác đã viết. Riêng tác giả Việt Thường, một nhà báo cộng sản hoạt động cho đến 1976 tại miền Bắc đã quả quyết người âm mưu bán đứng cụ Phan chính là Hồ Chí Minh. Khi nói về nghi vấn này, Duiker cũng không nhắc tới cái chết của Lâm Đức Thụ mà theo một số tác giả là do Hồ Chí Minh chủ trương để giữ bí mật việc ông ta có dính vào vụ báo cho Pháp bắt cụ Phan, mặc dù Duiker từng nhắc tới mối liên hệ khăng khít giữa Lâm Đức Thụ và Hồ Chí Minh (5). Karnow khen Duiker đã giải mật (demystifies) về nhân vật Hồ Chí Minh, làm cho các huyền thoại, các bí ẩn được sáng tỏ. Nhưng chính Duiker lại viết ở cuối đoạn mở đầu: "Ngồi trên tòa cao của đền thánh dành cho các anh hùng cách mạng, Hồ Chí Minh hẳn sẽ thích thú biết rằng, ít nhất qua cuốn tiểu sử này, cái dáng dấp huyền bí bao quanh ông vẫn còn nguyên vẹn (remains intact)." (6) Có thể hiểu đó là lời thú nhận sự bất lực trong việc giải tỏa các nghi vấn về tiểu sử Hồ Chí Minh và cũng có thể hiểu đó lời khẳng định thái độ tôn trọng đối với nhân vật nên cố ý giữ sự nguyên vẹn cho những huyền thoại đã có. Theo dõi những trang sách, người đọc khó bác bỏ cách hiểu thứ hai qua nhiều trường hợp lãng quên của tác giả trước một số sự việc. Ở đoạn viết về tương quan giữa Hồ Chí Minh với Mikail Borodin, Duiker lập lại nguyên vẹn tài liệu của Hồng Hà (7) với nhiều chi tiết hơn từ việc hai người ở chung tại khách sạn Lux Mạc Tư Khoa tháng 12-1923 và thường trò chuyện với nhau bằng tiếng Anh tới việc được cử sang Trung Hoa với tư cách phụ tá và thông dịch cho Borodin lúc đó là Trưởng Phái Bộ Liên Xô bên cạnh chính phủ Trung Hoa Dân Quốc tại Quảng Đông và cuối cùng cũng kết luận y hệt Hồng Hà:“Chỉ riêng vợ chồng Borodin biết căn cước thực của ông” (8 ). Nhưng chính Hồ Chí Minh dưới bút hiệu Trần Dân Tiên đã kể khác hẳn về tương quan với Borodin. Ông Hồ kể rằng lúc đó ông qua Trung Quốc để tìm đường về nước với mục đích truyền bá lý tưởng bình đẳng, tự do, bác ái học được ở Pháp. Tại Trung Quốc, ông phải đi bán báo và thuốc lá để kiếm sống nên nhân đó mới đọc thấy lời quảng cáo tìm thông ngôn và đã đến xin việc với Borodin. Trần Dân Tiên là một trong 5 bút hiệu của Hồ Chí Minh nên lời kể trên chính là lời tự kể. Duiker đã tới Việt Nam sưu tầm đủ loại tài liệu về Hồ Chí Minh chắc chắn không thể bỏ qua tập tự truyện của Hồ Chí Minh. Tuy vậy, Duiker coi như không hề có cuốn sách của Trần Dân Tiên (9). Tại sao? Có thể cho rằng Duiker đã gạt cuốn sách sang bên chỉ đơn giản là do thấy những lời kể trong đó sai với sự thực chăng? Cách giải thích này e khó hợp lý khi lời kể sai sự thực kia chính là lời tự kể của nhân vật đang được nhận dạng. Hơn nữa, mỗi lời kể sai về sự thực bản thân của bất kỳ ai đều phải có hậu ý và trong trường hợp Hồ Chí Minh, hậu ý đó không thể dễ dàng bỏ qua, nhất là đối với một sử gia đang làm công việc tìm hiểu về con người và cuộc sống của chính Hồ Chí Minh. Nghi vấn thứ nhất cần được giải đáp là lý do khiến Hồ Chí Minh kể sai như thế. Hồ Chí Minh chỉ muốn vẽ ra một cảnh gian khổ để tự đề cao hay muốn che giấu vai trò đảng viên Cộng Sản Quốc Tế ? Ý nghĩa của dụng ý đề cao hoặc che giấu đó là gì? Nghi vấn thứ hai là công việc thực sự của Hồ Chí Minh lúc đó tại Trung Hoa. Hồ Chí Minh là phụ tá cho Borodin với nhiệm vụ phát triển ảnh hưởng Đệ Tam Quốc Tế qua Trung Hoa và Đông Nam Á hay đúng như Hồ Chí Minh kể là chỉ muốn đem tinh thần tự do, bình đẳng, bác ái của Cách Mạng Dân Quyền Pháp về truyền bá tại Việt Nam? Ngay cả khi tin tưởng tuyệt đối các tài liệu của Liên Xô và tác phẩm của Hồng Hà cũng không thể không xét đến lời kể của chính Hồ Chí Minh dù đã được ông che giấu dưới một cái tên khác. Nghi vấn thứ ba nằm trong thời điểm Hồ Chí Minh đưa ra lời kể trên. Đó là năm 1948, sau khi xuất hiện ý hướng xoay chiều của người Pháp trong cuộc chiến Việt Nam và vấn đề chống Cộng đã được đặt lại trong dư luận ở nhiều nơi, kể cả vùng Pháp chiếm đóng lẫn vùng kháng chiến. Tình thế lúc đó đã dẫn tới việc Hồ Chí Minh phải che mờ các khuôn mặt cộng sản quá khích như Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Tôn Đức Thắng ... bằng tấm màn cải tổ chính phủ hồi tháng 7-1947 với sự trình diện một số nhân vật tên tuổi cũ hoặc không lộ rõ màu sắc cộng sản như Phan Kế Toại, Tạ Quang Bửu, Hoàng Minh Giám ... Cuốn sách của Hồ Chí Minh có tương quan với tình hình trên không và ý nghĩa tương quan đó ra sao? Trong khuôn khổ nghi vấn này cũng không thể bỏ qua tiết lộ của Pierre Brocheux, tác giả cuốn Ho Chi Minh, cho biết ngay từ đầu năm 1948, Hồ Chí Minh đã có bản dịch tiếng Pháp của cuốn sách và trao cho một nhân viên Cộng Sản Việt Nam tại Miến Điện để dịch ra tiếng Anh cùng các thứ tiếng khác. Như vậy, khi nhận dạng Hồ Chí Minh, không thể bỏ qua cuốn Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch do mức độ quan trọng của cuốn sách theo đánh giá của chính ông ta. Ngoài những nghi vấn về hậu ý khi viết sách, sự hiện diện của cuốn sách cũng là một nghi vấn cần xét về nhân cách của người viết. Một người viết hồi ký kể sai về một sự việc luôn bị nhìn là kẻ bất khả tín thì một người cố tình giấu mặt để tô vẽ mình bằng những huyền thoại tự tạo chứng minh mình có một cuộc sống vô cùng thánh thiện, mình đã được toàn dân tôn xưng là anh hùng cứu nước, được toàn dân coi là cha già dân tộc cần nhận dạng ra sao? Có lẽ lời giải thích hợp lý nhất về việc Duiker bỏ qua cuốn sách kia chỉ có thể dựa trên phát biểu của chính tác giả là ít nhất qua cuốn tiểu sử của tác giả, cái dáng dấp huyền bí bao quanh ông vẫn còn nguyên vẹn. Duiker không muốn phá vỡ các huyền thoại mà Hồ Chí Minh đã tự dựng lên về mình nên mới coi như không có cuốn sách. Bởi vì, nếu đưa cuốn sách ra mổ xẻ để đối chiếu với thực tế, hoặc chỉ để đối chiếu với một số tài liệu khác, thì hình ảnh thực của Hồ Chí Minh khó có thể giúp ông Hồ chiếm được một chỗ trong ngôi đền thờ những anh hùng cách mạng từng đấu tranh mạnh mẽ để những người cùng khổ trên thế giới có được tiếng nói đích thực của họ như lời diễn tả của Duiker. Thực ra, Duiker không chỉ tránh va chạm tới các huyền thoại xuất phát từ lời kể của chính Hồ Chí Minh mà còn góp thêm một số huyền thoại qua cuốn sách dày cộm của mình. Khi nói về thời niên thiếu của Hồ Chí Minh, Duiker viết: "Mẹ Cung (Hồ) cũng có chút ít kiến thức văn chương Việt Nam và thường ru con ngủ bằng hát ca dao hay ngâm những vần thơ trích trong truyện Kiều cổ điển, một truyện tình thương tâm của cặp tình nhân vướng vào mạng lưới luân lý cổ truyền.” Nói về bà của Hồ Chí Minh, Duiker viết: "Đến đêm, bà của Cung, trước khi đặt cháu lên võng thường đọc cho bé nghe về chuyện những bậc anh hùng. Cung thông minh và tò mò nên nhanh chóng hấp thụ kiến thức”. (10) Duiker còn kể chuyện ông Cử Sắc, thân phụ Hồ Chí Minh, đã từ chối không nhận tiệc khao để đem phân phát thịt trâu cho dân nghèo và thường kể cho con nghe về những thần thoại, những bậc anh hùng Việt Nam trong quá khứ. (11) Tác giả cũng đưa cả ông thợ rèn hàng xóm ra để chứng tỏ cậu bé Cung đã được tiêm nhiễm tinh thần dân tộc từ nhỏ như thế nào. Qua sự diễn tả của tác giả, ông thợ rèn này đã kể cho Cung nghe về mọi chuyện tranh đấu trong lịch sử Việt Nam từ chuyện Lê Lợi, chuyện Mai Thúc Loan, chuyện Phan Đình Phùng tới phong trào Cần Vương... (12) Điểm tựa cho sự bác bỏ hay nhìn nhận những diễn tả trên hết sức mơ hồ kể cả trong trường hợp tác giả nêu nổi bằng chứng cụ thể cho cái nếp sinh hoạt thơ ấu của cậu bé Cung là như thế và ông thợ rèn hàng xóm là một người rất thông hiểu về lịch sử Việt Nam. Vì ngay trong trường hợp này vẫn không có gì xác nhận cậu bé đã được ru ngủ bằng những vần thơ Kiều, được nghe kể mọi chuyện về Lê Lợi, về Mai Thúc Loan ... và xác nhận cậu bé đã nhanh chóng hấp thụ kiến thức. Dù muốn dù không, vẫn phải nhìn nhận diễn tả trên chỉ phản ảnh quan niệm quen thuộc về ảnh hưởng tác động vào xu hướng tinh thần của con người để dựa trên bối cảnh chung của xã hội nông thôn Việt Nam cuối thế kỷ 19 mường tượng ra vài cảnh sống coi như tiêu biểu của nhân vật. Nói một cách khác, tính chất tưởng tượng đã thay thế tính chất sử liệu trong diễn tả này. Nhưng, chuyện mẹ ru con ngủ bằng ca dao và truyện Kiều, chuyện bà kể cho cháu nghe về các anh hùng dân tộc, chuyện bố cõng con trên đường vừa đi vừa kể về các thần thoại và các nhân vật lịch sử Việt Nam, chuyện ông thợ rèn hàng xóm hun đúc lòng yêu nước của cậu bé bằng sự nhắc lại những cuộc khởi nghĩa, những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm vv… lại được Duiker gom thành tiền đề cho lời xác quyết về nhiệt tình yêu nước của Nguyễn Tất Thành khi Thành lên đường vào mùa hè 1911 để ra đi tìm phương cứu nước.(13) Và, để giữ vững xác quyết này, Duiker đã đưa ra một giải thích hoàn toàn chủ quan trước nghi vấn đang được đặt ra về lá đơn đề ngày 15-9-1911 của Hồ Chí Minh xin được nhập học trường thuộc địa như một học sinh nội trú với mong mỏi sẽ trở nên hữu ích cho nước Pháp ... Nhiều tác giả coi lá đơn này như chứng cớ cho thấy Hồ Chí Minh không hề nghĩ đến chuyện đấu tranh vào lúc đó nhưng Duiker quả quyết ý định thực sự của Nguyễn Tất Thành khi viết lá đơn trước hết là để giấu kín ý đồ cứu nước của mình và kế đó chỉ là để có cơ hội học hỏi thêm (14). Nếu sự việc chỉ đơn giản như vậy và còn biểu hiện tính thận trọng, tính cầu tiến rất đáng nêu gương cho giới trẻ thì tại sao Hồ Chí Minh giấu kín việc viết lá đơn và đảng Cộng Sản Việt Nam cũng coi như không có lá đơn, kể cả khi được lôi ra khỏi Thư Khố Paris đầu thập niên 1980? Theo Duiker, ngoài nhiệt tâm yêu nước, Hồ Chí Minh còn có một nhãn quan chính trị rất sắc bén mà chứng cớ cụ thể là đã chê nhà cách mạng Phan Bội Châu, không thèm nhận lời mời tham gia phong trào Đông Du từ trước khi cụ Phan xuất ngoại, năm 1904. (15) Giả dụ lời mời được đưa ra vào năm 1904 thì lúc đó Hồ Chí Minh đang là nhân vật như thế nào? Tiểu sử Hồ Chí Minh ghi ông sinh năm 1890, giấy tờ hộ tịch tại làng Kim Liên ghi Hồ Chí Minh sinh năm 1894, còn thông hành của ông khi từ Pháp qua Nga ghi sinh năm 1895. Vậy năm 1904, Hồ Chí Minh chỉ là cậu bé mới 9 tuổi hoặc tối đa 14 tuổi. Một cậu bé ở cỡ tuổi đó đã có đức tính gì và đóng góp gì để nhận được lời mời tham gia cách mạng và có thể tin nổi rằng cậu bé đó đủ nhận thức bác bỏ đường lối hoạt động của một phong trào đấu tranh chăng? Thực ra, câu trả lời nằm sẵn ở ngay cuốn Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch. Trong cuốn sách này, Hồ Chí Minh đã viết “ông Nguyễn lúc đó rất ít hiểu về chính trị, không biết thế nào là Công Hội, thế nào là bãi công và thế nào là chính đảng”. Lời mô tả này nhắm cho thời kỳ trước khi Hồ Chí Minh qua Mỹ tức là thời gian mà Hồ Chí Minh đã ngoài 20 tuổi. Một chàng trai ngoài 20 tuổi vẫn chưa biết thế nào là chính đảng, thế nào là bãi công có thể là hậu thân của cậu bé chỉ mới trên dưới 10 tuổi đã biết phán xét, và phán xét sắc bén, đường lối đấu tranh của những nhà cách mạng tiền bối chăng? Nếu không muốn nhìn tới cuốn sách của Hồ Chí Minh thì Duiker vẫn không thể không biết một câu tương tự do chính mình đã trích dẫn là Hồ Chí Minh sau này đã nói với nhà báo Mỹ Anna Louise Strong rằng cho tới khi viếng thăm Hoa Kỳ khoảng 1913, ông chẳng biết gì về chính trị (16). Sự mâu thuẫn và bỏ sót rõ rệt nhất của Duiker còn nhiều hơn trong những trang nói về cuộc sống tình cảm riêng của Hồ Chí Minh. Về khía cạnh này, Duiker có khá nhiều tài liệu nhưng có vẻ không lưu tâm. Duiker nhắc tên một loạt các người vợ, người tình của Hồ Chí Minh như Nguyễn Thị Minh Khai, Tăng Tuyết Minh, Đỗ Thị Lạc, Nông Thị Xuân, Nguyễn Thị Phương Mai... một cô ở Pháp, vài cô ở Nga và cả chuyện ông Hồ nhờ một cán bộ cao cấp Trung Cộng giới thiệu cho một cô gái trẻ để hưởng tuổi già ... theo lối nhìn dành cho những chi tiết lặt vặt và vui vui trong đời một lãnh tụ. Có thể đây là lối nhìn mà chính Duiker đã có nhưng cũng có thể đây là chủ đích định hướng nhận dạng đối tượng mà tác giả muốn có nơi người đọc. Dù thuộc trường hợp nào, cách diễn tả của Duiker cũng bị vướng mắc khá nhiều. Chỉ qua trường hợp Nguyễn Thị Minh Khai đã thấy rõ vướng mắc đó. Duiker tỏ ra có khá nhiều tài liệu. Duiker biết Nguyễn Thị Minh Khai là chị của Nguyễn Thị Minh Giang, vợ Võ Nguyên Giáp. Duiker biết liên hệ tình cảm giữa Hồ Chí Minh và Nguyễn Thị Minh Khai là bí ẩn rắc rối nhất trong đời ông Hồ. Duiker biết bút hiệu T.Lan chính là viết tắt tên Trần Thái Lan, một tên khác của Nguyễn Thị Minh Khai. Nhưng Duiker không nhắc tới chi tiết cuộc tình bí ẩn này mà chỉ đưa ra những danh xưng rất dễ gây lúng túng cho người đọc. Chẳng hạn khi Duiker gọi Minh Khai là “vợ Quốc”, khi gọi là “vợ cũ”, khi gọi là “vợ Lê Hồng Phong” và Duiker còn ghi rõ Lê Hồng Phong chính thức kết hôn với Minh Khai tại Liên Xô (17). Sự việc này cho thấy Duiker đã coi nhẹ vấn đề tới mức không lưu tâm tới các nghi vấn về tương quan giữa Hồ Chí Minh với Nguyễn Thị Minh Khai hoặc chỉ dựa theo tài liệu của Đảng Cộng Sản Việt Nam (18 ) để giữ vẹn màu sắc thần thánh cho Hồ Chí Minh. Trong trường hợp sau, việc ông dùng danh xưng “vợ cũ của Quốc” để gọi Nguyễn Thị Minh Khai không hẳn là do cẩu thả mà chính là cố ý tạo sẵn lời giải thích cho bất kỳ thắc mắc nào có thể nẩy ra về cuộc tình bí ẩn trên. Người thắc mắc sẽ tự tìm cho mình lời giải thích rằng Nguyễn Thị Minh Khai là “vợ cũ” của Hồ Chí Minh vì đã chia tay với nhau, sau đó mới trở thành vợ Lê Hồng Phong. Cách giải thích này có thể giúp thay đổi hẳn cái nhìn về phẩm cách của Hồ Chí Minh so với tình tiết thực của mối tình tay ba qua ghi nhận của nhiều tác giả mà Duiker đã bỏ qua. Theo những tình tiết này thì Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai từng hứa hôn từ khi qua Trung Quốc làm việc tại Đông Phương Bộ Quốc Tế Cộng Sản năm 1930. Năm 1931, Minh Khai bị mật thám Pháp bắt giữ cho tới năm 1934 mới được thả. Đây là lúc Lê Hồng Phong và Minh Khai được chọn làm đại biểu tham dự Đại Hội Quốc Tế Cộng Sản lần thứ 7 tại Mạc Tư Khoa. Lê Hồng Phong lên đường trước, còn Minh Khai ở lại thụ huấn với Hồ Chí Minh để chuẩn bị cho việc tham gia Đại Hội. Thời gian ngắn ngủi này dẫn tới việc Minh Khai có thai với Hồ Chí Minh và khi hai người tới Mạc Tư Khoa đã có sự can thiệp của tổ chức Đảng ở đây để Hồ Chí Minh và Minh Khai chính thức thành hôn. Do đó mới có nghi vấn về bản giá thú của Hồ Chí Minh với Minh Khai lưu trữ tại Văn Khố Mật Liên Xô Theo bộ sách 10 tập của Cộng Sản Việt Nam, Hồ Chí Minh Biên Niên Tiểu Sử, thì 3 đại biểu của Đông Phương Bộ Quốc Tế Cộng Sản tham gia Đại Hội Quốc Tế Thanh Niên lần 6 khai mạc tại trụ sở công đoàn Liên Xô, Mạc Tư Khoa ngày 25-9-1935 là Hồ Chí Minh, Minh Khai và Tú Hưu (tức Hoàng Văn Nọn). Tài liệu ghi rõ tên trong Đảng của Hồ Chí Minh lúc đó là Teng Man Huon, còn tên trong Đại Hội là Lin. Không có tài liệu nào của Cộng Sản nói về sự có mặt của Lê Hồng Phong bên cạnh Hồ Chí Minh hay Nguyễn Thị Minh Khai tại Nga vào thời gian này. Khi Nguyễn Thị Minh Khai về nước năm 1936, Hồ Chí Minh cũng xin về nhưng chuyến đi bị hủy bỏ nên mãi cuối năm 1938, Hồ Chí Minh mới về tới Quế Lâm, làm việc tại Văn Phòng Bát Lộ Quân dưới cái tên mới là Hồ Quang, cấp bậc Thiếu Tá. Không có tài liệu nào cho biết thêm về tương quan giữa Hồ Chí Minh với Nguyễn Thị Minh Khai, ngoài những tài liệu của Đảng nói về việc Nguyễn Thị Minh Khai có một người con gái và nói đó là con của Lê Hồng Phong. Lê Hồng Phong bị bắt năm 1938 tại Chợ Lớn sau khi chia tay với Hồ Chí Minh tại Hong Kong để về nước. Cuộc gặp gỡ giữa Lê Hồng Phong và Hồ Chí Minh diễn ra hết sức bí mật nên việc bị bắt của Lê Hồng Phong cũng thành một nghi vấn là có thể do bàn tay hãm hại của ông Hồ vì ông vẫn biết Lê Hồng Phong chưa nguôi thù hận về câu chuyện tình với Minh Khai nên ra tay trừ khử. Duiker có ghi Hà Huy Tập, một đảng viên cùng đợt với Lê Hồng Phong, từng tố cáo với Quốc Tế Cộng Sản về việc Hồ Chí Minh đã gây ra tai họa cả trăm đảng viên bị sát hại. (19)Tuy nhiên, Duiker không đả động tới nghi vấn về vụ bị bắt của Lê Hồng Phong, dù chỉ đề cập để bác bỏ. Thực ra, Duiker bỏ qua rất nhiều nghi vấn và sự việc trong cuộc đời tình cảm của Hồ Chí Minh bằng lối kể lửng lơ. Qua cuốn sách của Duiker, người đọc không hiểu diễn biến cuộc sống vợ chồng của Hồ Chí Minh và Tăng Tuyết Minh ra sao, không nắm vững hết tương quan tình cảm giữa Hồ Chí Minh với Nguyễn Thị Minh Khai thế nào, không biết gì về cái kết cục bi thảm dành cho Nông Thị Xuân cùng số phận tất cả những người tình khác...Dường như Duiker chỉ đề cập tới khía cạnh này để chứng tỏ đã đọc nhiều, biết nhiều và nhất là không thể tránh né để chứng tỏ cái nhìn vô tư của một sử gia. Duiker đã chọn một cách đề cập có cân nhắc để không gây tác hại cho cái nhìn vốn có của mình dành cho nhân vật được ngưỡng mộ. Dù vậy việc phổ biến cuốn sách bằng tiếng Việt vẫn gặp rắc rối vào tháng 8-2002 như đã ghi ở đầu chương. Nhưng ngay những người ngăn cản việc phổ biến tác phẩm của Duiker tại Hà Nội chắc chắn cũng phải nhìn nhận Duiker đã góp phần rất tích cực cho việc đánh giá cao tinh thần yêu nước và tài ngoại giao của Hồ Chí Minh. Tương tự một số tác giả khác có cảm tình với Hồ Chí Minh, Duiker xác quyết ông Hồ là người yêu nước thương dân, người hiền hậu khoan dung và những tàn hại mà nhân dân Việt Nam phải gánh chịu đều do thủ hạ lộng quyền, tiêu biểu là nhóm Lê Duẩn, gây ra. Theo Duiker, Lê Duẩn không chấp nhận đường lối ôn hòa được Liên Xô cổ võ giữa thập niên 1950 và đã được ghi vào nghị quyết của Đảng, vì Duẩn tin theo chủ thuyết Mao Trạch Đông, chủ trương thống nhất đất nước bằng bạo lực là điều mà Hồ Chí Minh không tán thành. Duiker không trưng dẫn một tài liệu nào làm điểm tựa cho lập luận này nhưng rõ ràng là một biện bạch rất cần thiết cho lối nhìn đã có về Hồ Chí Minh thể hiện từ hình ảnh những cảnh đời thơ ấu của cậu bé Nguyễn Sinh Cung qua sự tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành tới hành vi của Tổng Thống Mỹ Truman năm 1945 từ chối ủng hộ Hồ Chí Minh mà Duiker gọi là sai lầm. Theo diễn tả của Duiker, Hồ Chí Minh luôn là người thánh thiện, nhiệt tình với dân với nước nhưng luôn bị lâm cảnh gánh chịu tai tiếng về những thảm họa. Cuộc chiến Việt Nam 1945-1954 là do Tổng Thống Truman gián tiếp gây nên bởi bác bỏ đề nghị xin ủng hộ của Hồ Chí Minh và cuộc chiến Việt Nam 1954-1975 là do chủ trương của Lê Duẩn. Nhưng chính Duiker lại tỏ ra tự mâu thuẫn khi ghi nhận rằng Hồ Chí Minh là người ủng hộ việc bổ nhiệm Lê Duẩn vào chức bí thư thứ nhất tức là chức vụ có quyền cao nhất trong Đảng với lý do để có thể an tâm rằng kẻ kế vị ông sẽ dành ưu tiên cao cho vấn đề thống nhất đất nước. (20) Với ghi nhận này, khó thể nghĩ Hồ Chí Minh chống lại chủ trương dùng bạo lực của Lê Duẩn và không chia xẻ trách nhiệm về những thảm cảnh sau này của đất nước. Hai điểm nhấn mạnh khác của Duiker trong bức chân dung Hồ Chí Minh là tinh thần quốc gia và tính khoan hòa nhân ái. Tinh thần quốc gia của Hồ Chí Minh là điều được Duiker nhắc liên tục từ đầu tới cuối tác phẩm qua hình dạng một người yêu nước và tranh đấu vì chủ nghĩa dân tộc. Cho nên Duiker cho rằng Hồ Chí Minh không phải là người theo đường lối Cộng Sản Quốc Tế và khẳng định Hồ Chí Minh chỉ muốn làm vừa lòng Stalin khi nhắn với Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam rằng phải tuyệt đối tuân theo chính sách mặt trận thống nhất đã được thông qua tại Đại Hội 7 Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản chứ không thực sự muốn thi hành các điểm đã nêu, trong đó có điểm 4 mà Hồ Chí Minh đã nhắc lại như sau: “Chúng ta không thể nhượng bộ điều gì cho nhóm Tờ-Rốt-Kít. Chúng ta phải làm tất cả mọi việc có thể được để lột mặt nạ của chúng là những con chó của Phát Xít và tiêu diệt chúng về chính trị." (21) Song song với lời bào chữa được đưa ra, Duiker lại ghi về mối tương quan và các hoạt động của Hồ Chí Minh trong thời gian ở Trung Hoa luôn nằm trong tầm chi phối của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản. Những nhân vật liên hệ với Hồ Chí Minh như Manuilsky, Joseph Ducroux có bí danh Serge Lefrank, Hilaire Noulens ... đều là người của Đệ Tam Quốc Tế và hoạt động của Hồ Chí Minh đều do Đệ Tam Quốc Tế chỉ thị. Duiker còn nêu các tài liệu cho biết Hồ Chí Minh đã được Đệ Tam Quốc Tế cấp phương tiện tiền nong cũng như việc thành lập các Đảng Cộng Sản Đông Dương và Đảng Cộng Sản Việt Nam đã được Đệ Tam Quốc Tế hướng dẫn ra sao. Có thể bảo mối tương quan và các hoạt động đó cũng chỉ là cách lấy lòng Stalin chăng? Vả lại, chính Duiker đã cho biết Hồ Chí Minh hết sức yêu kính và trung thành với Lênin và còn trích dẫn một bài viết của ông Hồ trên tờ Sự Thật – Pravda của Liên Xô số ra ngày 27-1-1924 với lời kết như sau: "Khi còn sống, người là cha, là thày, là đồng chí và cố vấn của chúng ta. Nay người là ngôi sao dẫn đường đưa tới cách mạng xã hội. Lênin sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta. Người bất tử." Đi xa hơn, Duiker trích phát biểu của một đảng viên Cộng Sản Pháp rất thân với Hồ Chí Minh nhưng về sau bỏ Đảng, từng gọi Hồ Chí Minh là "Staliniste”, người theo chủ nghĩa Stalin thuần thành. (22) Như thế, Hồ Chí Minh không chỉ bị Cộng Sản chi phối do nhận nhiệm vụ, nhận tiền trợ cấp để hoạt động cho các mục tiêu của Đệ Tam Quốc Tế mà bản thân Hồ Chí Minh đã tự nguyện đi theo con đường của Đệ Tam Quốc Tế vì lòng tin tuyệt đối dành cho các lãnh tụ tổ chức này. Những tài liệu trích dẫn trên là những trở lực khó vượt qua để khoác cho Hồ Chí Minh bộ áo người quốc gia yêu nước, dù mức độ ước mong của Duiker lớn tới cỡ nào. Khía cạnh khác của Hồ Chí Minh mà Duiker đề cao là tính khoan hòa, lòng nhân hậu và sự thấu triệt về phương thức đấu tranh. Theo Duiker, Hồ Chí Minh là người chịu ảnh hưởng luân lý Khổng Mạnh nên luôn chú trọng các tiêu chuẩn đạo đức như cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, chân thành phục thiện, cầu học cầu tiến, lễ độ khiêm cung và trên hết là khoan hòa độ lượng... Tất nhiên Duiker không có dịp trực diện với Hồ Chí Minh mà chỉ ghi theo một số nhân chứng nào đó và qua suy diễn. Trên thực tế, nếu có những nhân chứng đã kể Hồ Chí Minh có các đức tính trên thì cũng không thiếu nhân chứng xác nhận Hồ Chí Minh là kẻ đại gian đại ác và như thế vấn đề lại trở thành tranh cãi. Cách duy nhất mà người nhận dạng Hồ Chí Minh phải chọn chính là nhìn thẳng vào những gì liên hệ tới cuộc sống và hoạt động đã được ghi lại. Trước mắt Duiker đã có những thảm cảnh lịch sử Việt Nam từ 1945, có những nạn nhân của chính sách cải cách ruộng đất, có những người Cộng Sản Đệ Tứ Quốc Tế bị Hồ Chí Minh gọi là những con chó của Phát Xít và ra lệnh tiêu diệt... Trước mắt Duiker chắc chắn cũng có những tài liệu cho biết ngày 28-12-1967, Hồ Chí Minh đã họp Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng quyết định mở đợt tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968 trên toàn miền Nam và tháng 3-1968, trong khi toàn miền Nam chìm trong máu lửa tóc tang, Hồ Chí Minh đã hào hứng sáng tác 2 bài thơ “Vô Đề” được Đảng lưu lại như di sản quý báu: I Đã lâu chưa làm bài thơ nào Đến nay thử làm xem ra sao Lục mãi giấy tờ vẫn chưa thấy, Bỗng nghe vần “thắng” vút lên cao II Thuốc kiêng rượu cữ đã ba năm Không bệnh là tiên sướng tuyệt trần Mừng thấy miền Nam luôn thắng lớn Một năm là cả bốn mùa Xuân. (23) Một người lấy cảnh chết chóc đau khổ của đồng bào mình làm nguồn hứng sáng tác thơ, trong khi chính người đó từng tuyên bố với báo chí “gộp tất cả những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi” (24)liệu có thể là con người nhân ái và trung thực, chân thành không? Duiker còn có thể nhìn lại điều chính mình đã đưa ra để xác định tầm thấu triệt phương thức đấu tranh của Hồ Chí Minh qua sự việc cuốn Con Đường Kách Mệnh của Hồ Chí Minh gần như giống hệt cuốn Kinh Bổn của Người Cách Mạng của Sergey Nechayev. Theo Duiker, Nechayev nhấn mạnh đến vai trò của người làm cách mạng chẳng khác gì một dụng cụ mù quáng của mục tiêu cách mạng.“Anh ta phải tàn nhẫn, nham hiểm như Machiavel, trong khi cổ võ cho mục đích cách mạng. Anh ta phải tỏ ra tuyệt đối phục tùng đảng của anh ta và sẵn sàng từ bỏ mọi liên hệ bạn bè và gia đình. Cũng phải sẵn sàng hy sinh những tiêu chuẩn đạo lý đã được nhìn nhận một cách phổ quát, để có thể nói dối, ăn gian vì lợi ích cách mạng….Nói chung cuốn sách đã được Lênin tán thưởng và trở thành thánh kinh của nhóm đa số (quá khích) của ông”. (25) Nechayev từng được Lênin coi như một thứ siêu Machiavel. Khi thấy Hồ Chí Minh giống hệt Nechayev ắt không thể kết luận khác được rằng Hồ Chí Minh là một con người chỉ sống và hành sử bằng thủ đoạn mà thôi. Trong trường hợp này, diễn tả Hồ Chí Minh bằng hình ảnh một người mang nặng ảnh hưởng luân lý Khổng Mạnh chỉ có thể hiểu là quá mù mịt về Khổng học hoặc cố tình thay trắng bằng đen. Hơn nữa, chính Duiker đã bảo Hồ Chí Minh là đệ tử thuần thành của cả Lênin lẫn Stalin thì dựa vào đâu để nói được rằng Hồ Chí Minh là con người khoan dung, nhân ái, khi chính những người Cộng Sản Liên Xô đã triệt hạ tượng đài của các nhân vật này, coi Lênin là kẻ gian xảo và gọi Stalin bằng biệt danh tên đồ tể? Phải nhìn nhận rằng W. J. Duiker đã đưa ra một tác phẩm đồ sộ hơn hẳn những tác giả trước ông với rất nhiều chi tiết về Hồ Chí Minh. Ông đọc nhiều, có một khối tài liệu phong phú nên giúp người đọc hiểu thêm cả những hoàn cảnh và nhân vật xoay quanh đối tượng của mình. Dù chỉ viết về tiểu sử Hồ Chí Minh, Duiker đã dựng lại nhiều khung cảnh chiến tranh Việt Nam cũng như tình hình thế giới sau Đệ Nhị thế chiến, tình hình nội bộ Liên Xô cùng mối quan hệ Liên Xô - Đức Quốc Xã, cuộc hôn phối cưỡng ép Quốc - Cộng Trung Hoa trong thời gian kháng Nhật và một số hoạt động đảng phái tại Việt Nam. Ưu điểm của Duiker là cố phân tích tới từng chi tiết của mọi vấn đề. Nhưng ưu điểm này lại là một phần nguyên do đưa tác giả tới nhiều điểm tự mâu thuẫn khi gặp các chi tiết quá phức tạp vượt khỏi tầm xác định. Ưu điểm này cũng khiến lộ rõ những cố tình tránh né của tác giả trước nhiều chi tiết được bỏ qua. Phần khác, theo chúng tôi, tác giả có vẻ bị chi phối bởi định kiến về con người Hồ Chí Minh nên không chịu đặt cuộc chiến mà ông Hồ chủ trương vào đúng bối cảnh chiến tranh ý thức hệ cộng sản hay đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác-Lênin. Duiker đã nhắc đến đề cương Lênin về chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa thuộc địa và ghi nhận việc Lênin hô hào liên kết với các giai cấp phi vô sản để đánh đổ chủ nghĩa đế quốc trong một quốc gia chỉ là chiến thuật giai đoạn và có điều kiện. Nhưng Duiker lại không chịu nhìn sâu vào chiến lược sách lược toàn bộ cuộc đấu tranh đó để xác định vai trò của Hồ Chí Minh với tính chất chủ yếu là lệ thuộc vào Liên Xô. Chính vì thế, Duiker không đếm xỉa đến nỗi đau khổ cùng cực của nhân dân Việt Nam với tính cách nạn nhân trực tiếp trong quá trình theo đuổi lý tưởng của Hồ Chí Minh cũng như không nhận ra những lời lẽ đầu môi chót lưỡi và thủ đoạn xảo trá của một chính trị gia tham tàn, mặc dù trong chương IX, tác giả đã viết: Môn học chính mà ông Hồ dậy các học viên đàn em của ông là tuyên truyền (26)và nhắc đến cái tên trung đội võ trang tuyên truyền giải phóng quân được đặt cho đạo quân bé nhỏ đầu tiên của Võ Nguyên Giáp khi mới thành lập. Có thể bảo tất cả cuộc chiến Việt Nam nằm gọn trong 2 chữ tuyên truyền theo các nguyên tắc đấu tranh của Lênin dưới ảnh hưởng tinh thần vô luân Nechayev mà Hồ Chí Minh tín phục và tuân thủ. Nếu không do cố ý bởi sự chi phối bởi một định kiến thì chỉ có thể nói là đã hoàn toàn lạc hướng khi đề cập tới vai trò Hồ Chí Minh trong cuộc chiến Việt Nam mà không nhìn thẳng vào tính chất này. Trong trường hợp nhìn tác phẩm của Duiker ở khía cạnh lạc hướng, có thể giải thích là trong quá trình thu góp tài liệu, Duiker chỉ tiếp xúc giới hạn với một số khuôn mặt khoa bảng thuộc các cơ quan Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam và chỉ đọc những tác phẩm chính thống tức là những tác phẩm đã được nhào nặn, đo lường rất kỹ về từng chi tiết trước khi phổ biến. Trong giới hạn này, vóc dáng lãnh tụ luôn luôn là vóc dáng được tô điểm vì hình thành từ cái nhìn của thủ hạ và gay gắt hơn là cái nhìn đã được uốn nắn. Trên thực tế, cái nhìn từ phía quần chúng, thậm chí từ phía nạn nhân, có thể có một giá trị đóng góp tích cực hơn do tính trung thực vì vừa phản ảnh tâm tư của đám đông vừa chưa bị uốn nắn. Suốt nửa thế kỷ qua, con người và sự nghiệp Hồ Chí Minh đã được nhiều thế hệ dân chúng Việt Nam đánh giá qua không ít những mẩu chuyện cười, những vần “thơ ghế đá” ... và đây là nguồn tài liệu mà Duiker bỏ qua. Tư cách sử gia của tác giả Hồ Chí Minh, a life rõ ràng bị hạn chế do sự chăm chút cho mặt được chiếu sáng của tấm huy chương, trong khi tấm huy chương nào cũng có mặt trái của nó. Chúng tôi nghĩ rằng sự việc xảy ra vào tháng 8-2002 về việc phổ biến cuốn sách tại Việt Nam có thể đã gợi nhắc tác giả về một ý nghĩ nào đó. Duiker nghĩ sao khi những người Cộng Sản Việt Nam đặt thẳng vấn đề phải cắt bỏ một số chi tiết trong cuốn sách mới được phép phổ biến tại Việt Nam? Trong lá thư gửi nhà xuất bản Hyperion Books, New York, nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia tại Hà Nội đã ghi rõ cần bỏ đi một vài đoạn không phù hợp với những thông tin hiện có trong hồ sơ của chúng tôi. Duiker đã viết cuốn sách dựa trên phần lớn tài liệu chính thức và nhận định từ những nhân vật của chế độ. Nhưng sách vẫn không thể phổ biến vì cách khai thác tài liệu không phù hợp với cái nhìn của chế độ và chế độ cũng không giấu kín ý đồ muốn kiểm duyệt mọi lời phát biểu của tác giả. Chế độ đó có thể phù hợp với mong mỏi của toàn thể những người dân Việt Nam vẫn đòi hỏi dân chủ tự do từ 1945 tới nay không và chế độ đó là di sản của ai? Ít nhất có thể Duiker cũng phải nhìn lại câu phát biểu mà ông đã viết: “Ông Hồ đã chiếm được một chỗ trong ngôi đền thờ những anh hùng cách mạng từng đấu tranh mạnh mẽ để những người cùng khổ trên thế giới có được tiếng nói đích thực của họ”. Hồ Chí Minh đã tạo ra cái di sản ngăn cấm ngay tiếng nói của một sử gia thì có thể là bậc anh hùng đã đấu tranh mạnh mẽ cho tiếng nói đích thực của những kẻ cùng khổ được cất lên chăng? CHÚ THÍCH CHƯƠNG 01 ______________________________ (01)Nhà xuất bản Hyperion Books, New York, 2000. (02) Vợ tác giả. (03)-(04) SĐD tr. 577, 574 (05) Theo Duiker, chính vợ Lâm Đức Thụ giới thiệu Tăng Tuyết Minh cho ông Hồ tại nhà Borodin để sau đó Tăng Tuyết Minh trở thành vợ ông Hồ. Về Tăng Tuyết Minh, theo tài liệu của giáo sư Hoàng Tranh, Viện Phó Viện Khoa Học Xã Hội Quảng Tây, Trung Cộng tiết lộ cuối năm 2001 thì năm 1926, ông Hồ mang tên Lý Thụy, 36 tuổi đã làm hôn lễ với cô nữ hộ sinh Tăng Tuyết Minh, một thiếu nữ Quảng Châu, 21 tuổi, tín đồ Cơ Đốc giáo. Lễ cưới cử hành tại nhà hàng Thái Bình là nơi một năm trước, Chu Ân Lai làm lễ cưới với Đặng Dĩnh Siêu. Hoàng Tranh cho biết 2 chữ "Chí Minh" trong tên của HCM có nghĩa là nhớ mãi không quên (Tăng Tuyết) Minh. (06)-(08 ) SĐD tr. 7, 113 nguyên văn:Only Borodin and his wife were aware of his identity. His tức của Nguyễn Ái Quốc, lúc ấy mang tên Lý Thụy. (07) Bác Hồ trên đất nước Lênin, tr. 148 (09) Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch. (10)-(11)-(12)-(13)-(14)-(15) SĐD tr. 18, 19, 14, 42, 47, 26. (16) SĐD tr. 5, nguyên văn:“since he later told the US journalist Anna Louise Strong that during his visit to the USA he knew nothing about politics”. (17) SĐD tr. 225 (18 ) Tự Điển Nhân Vật Lịch Sử,Nxb Văn Hóa, Sài Gòn 1999, tr.644 ghi: “Nguyễn Thị Minh Khai lúc nhỏ tên là Vịnh. Năm 1930 sang Trung Quốc làm việc ở Văn Phòng Đông Phương Bộ Quốc Tế Cộng Sản. Năm 1931 bị mật thám Pháp bắt ở Hong Kong, năm 1934 được trả tự do. Trong năm này bà cùng Lê Hồng Phong được cử làm đại biểu chính thức đi dự đại hội lần thứ 7 của Quốc Tế Cộng Sản tại Mạc Tư Khoa. Sau đó họ làm lễ thành hôn. Tại đấy bà vào học trường Đại Học Đông Phương Staline. Năm 1936, bà được phân công tác ở Sài Gòn, ngày 30.7.1940 bà bị địch bắt. Ngày 28.8.1941 bà bị xử bắn tại Hóc Môn. Hưởng dương 31 tuổi”. (19)-(20) SĐD tr. 222, 499, nguyên văn:“Whatever the case, the appointment appeared to have the blessing of HCM, who could rest assured that his successor would give priority to the national reunification”. (21)-(22) SĐD tr. 235, 95, nguyên văn:“According to Boris Souvarine, the French Communiste who later left the revolution movement, Nguyen Ai Quoc had now become an accomplished Stalinist ”. (23) HCM, Biên Niên Tiểu Sử – T. 10, tr. 139, 161, 163. (24) Trả lời báo Granma, Cuba ngày 14.7.1969 - HCM, Biên Niên Tiểu Sử – T. 10, tr. 373. (25)-(26)SĐD tr. 135, 258
Re: HỒ CHÍ MINH - Nhận Định Tổng Hợp* Chương 02 * JEAN LACOUTURE và HCM, A Political Biography Trước khi xuất hiện tác phẩm Hồ Chí Minh, a life của William J. Duiker, các nhà nghiên cứu thường đánh giá cuốn Hồ Chí Minh, a political biography của Jean Lacouture là tác phẩm đầy đủ nhất về tiểu sử Hồ Chí Minh. Nhiều người còn cho là cuốn sách viết hay nhất. Jean Lacouture, sinh năm 1921, người Bordeaux, thành phố nổi tiếng về rượu chát của miền Nam nước Pháp. Tại đây ông theo bậc trung học tại trường Dòng Tên Jésuite (*), rồi đại học văn khoa. Sau đó, ông lên Paris học luật và sinh sống tại đây. Ông là học giả, sử gia, nhà báo, nhà ngoại giao – tùy viên báo chí của Pháp tại Đông Dương từ 1945 đến 1947. Ông viết cho nhiều tờ báo ở Mỹ. Trong khoảng ba chục tác phẩm của ông có 6 cuốn về Việt Nam trong đó được lưu ý là cuốn Việt Nam giữa hai cuộc hưu chiến. Nguyên tác tiếng Pháp cuốn Hồ Chí Minh, a political biography xuất bản lần đầu năm 1967. Một năm sau, bản dịch Anh văn của Peter Wiles được Random House, New York cho ra mắt tại Mỹ. Sách viết theo thứ tự thời gian gồm 15 chương từ Người Dân Quê, Người Di Dân, Người Chiến Sĩ… cho đến Bác Hồ và Chú Sam, sau hết là Trận Đánh Cuối Cùng. Ngay những trang đầu tác giả đã cho thấy hết sức khâm phục và ngưỡng mộ đối tượng của mình. Tác giả nói rõ nhận định về Hồ Chí Minh là người tranh đấu cho cả lý tưởng cách mạng Lênin lẫn chủ nghĩa dân tộc Việt Nam. Đặc biệt tác giả ca ngợi Hồ Chí Minh là con người hành động, hay như có người chua chát mà cũng chính xác gọi là "kẻ khuấy động” (agitator), "kẻ thức trong khi mọi người ngủ”. (1) Tác giả cũng không kém ngưỡng mộ cha của Hồ Chí Minh là phó bảng Nguyễn Sinh Huy (hay Sắc), vì cho rằng ông ta bị huyền chức, không phải vì nghiện rượu hay biển thủ công quỹ mà vì bài Pháp và ủng hộ phong trào Cần Vương, cổ võ cho nhà cách mạng Phan Bội Châu. Về cách đối xử của Hồ Chí Minh với anh chị em, tác giả kể khi bà Thanh lên Hà Nội thăm em đã làm chủ tịch nước được ông Hồ tiếp đón niềm nở (with open arms) và khi người anh trai, Nguyễn Sinh Khiêm chết, ông Hồ có gửi điện văn về làng chia buồn, xin lỗi do phải lo việc nước hơn việc nhà. Tác giả cẩn thận ghi chú là lúc ấy (2) chiến trường sôi động, ông Hồ đang phải chiến đấu trong bí mật. Chương II, Kẻ Di Dân, nói về hoạt động của Hồ Chí Minh tại Pháp. Sống cực khổ, thất nghiệp, dành thì giờ đọc sách, viết báo, tìm gặp những người có xu hướng cách mạng thuộc nhiều nước Pháp, Nhật, Nga…Tác giả bảo Hồ Chí Minh "tập họp xung quanh mình những Phan Văn Trường, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thế Truyền”, phần đông lớn hơn cả chục tuổi. Tác giả cũng tiết lộ rằng chính bộ trưởng Albert Sarraut (3) cho biết tên Nguyễn Ái Quốc là một bút hiệu của nhà cách mạng Phan Chu Trinh. Và ở mấy trang sau, tác giả xác nhận bản thỉnh nguyện thư 8 điểm mà Hồ Chí Minh trình ở Hội Nghị Hòa Bình Versailles đã được soạn thảo chung với Phan Văn Trường dưới sự hướng dẫn của Phan Chu Trinh. Hai chi tiết này trái ngược hẳn với các văn kiện chính thức của Cộng Sản Việt Nam vẫn nói tên Nguyễn Ái Quốc là biệt danh của ông Hồ và bản thỉnh nguyện thư trên cũng do ông Hồ nghĩ ra và tự viết. Đầu chương III, (4) tác giả kể chuyện "anh chàng lịch lãm, dễ thương Georges Pioch đã làm gương để khuyên Hồ học đàm thoại và ăn nói trước công chúng. Với mục đích đó, Hồ đi dự các cuộc họp tại Câu Lạc Bộ Faubourgh do Leo Poldes lập. Hồ tham gia thảo luận, thoạt tiên còn lúng túng, ngượng nghịu, cố không nói lắp, không nói nhịu...” Qua chi tiết này, Hồ Chí Minh đã được "đào tạo" rất sớm về nghệ thuật tuyên truyền và nói trước quần chúng nên tiến bộ nhanh về các mặt này trong thời gian trau dồi thêm ở Liên Xô từ 1933 đến 1938. Tuy nhiên, tác giả chê Bản án chế độ thực dân Phápviết rất dở, và cho rằng có lẽ do ông Nguyễn Thế Truyền, người đề tựa cho nó, đã viết chứ không phải Hồ Chí Minh. Đây là chi tiết khiến người đọc khó tránh khỏi ý nghĩ Jean Lacouture đánh giá cao đối tượng đến mức không bao giờ chịu tin là Hồ Chí Minh làm một cái gì dở hay kém! Một việc chính Hồ Chí Minh đã đem ra khoe là do mình làm vẫn có thể là do ai đó làm, trong trường hợp nhận thấy không phải việc hay, việc tốt! Trong chương này tác giả cũng dành nhiều trang nói về tờ báo Le Paria mà Hồ Chí Minh chủ trương và đã dành ra 2 năm để nuôi sống nó, dù rằng nó vẫn sống thêm 2 năm nữa, sau khi ông Hồ bỏ đi Nga rồi. Chương IV nói về công thống nhất đảng của Hồ Chí Minh. Tác giả ghi từ 1933 đến 1938 là thời gian Hồ nghỉ ngơi và nghiên cứu nhiều tại Mạc Tư Khoa. Trong thời gian này Hồ tham dự đại hội 7 của Đệ Tam Quốc Tế. "Nhưng Lê Hồng Phong, chứ không phải Hồ đã được bầu vào trung ương Đệ Tam Quốc Tế. Sau đó ít lâu, Phong về Đông Nam Á, bị bắt và chết trong tù”. Tác giả không nói rõ địa điểm, thời điểm và trường hợp của sự việc này. Chương V, Tù Nhân, tác giả kể lại việc Hồ Chí Minh kín đáo về nước cuối tháng 1-1941, sau 30 năm vắng mặt, lập bản doanh ở vùng "giải phóng" Pác Bó, thuộc tỉnh Cao Bằng và ở đây hơn 1 năm. Dịp này Hồ đã đặt tên ngọn núi là núi Karl Marx và dòng suối là suối Lênin. Tại đây Hồ triệu tập hội nghị toàn phần trung ương đảng kỳ 8. Mặt Trận Việt Minh ra đời trong một túp lều lá với một chiếc bàn duy nhất. Tại hội nghị này có mặt Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Thụ, Vũ Anh, Phùng Chí Kiên, Võ Nguyên Giáp. Tác giả dành gần trọn trang 75 nói về lòng yêu nước của Hồ Chí Minh, cho rằng Hồ nay mới được tự mình kêu gọi tới lòng yêu nước của nhân dân, lập nên các đoàn thể Cứu Quốc, và dành chỗ cho mọi tầng lớp nhân dân, không chỉ có công nhân, mà cả nông dân, tiểu tư sản, thậm chí cả địa chủ yêu nước. Mở đầu chương VI, Người Giải Phóng, tác giả nói đến việc Hồ Chí Minh cổ võ cho chính sách "xâm nhập” tổ chức Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội. Qua trung gian tướng Trương Phát Khuê, Hồ đã đạt được ý nguyện. Nhưng chính phủ lâm thời liên hiệp do Trương Bội Công làm thủ tướng chỉ dành cho Hồ một chức bộ trưởng không hứa hẹn gì nên Hồ tìm cách gây liên hệ với liên quân Hoa - Mỹ để thoát hiểm. May mà "phe Trương Bội Công xâu xé lẫn nhau”, trong lúc Hồ bắt đầu lên đường về nước. Chính phủ lâm thời kia hoàn toàn tan rã, nhưng phe Hồ Chí Minh, nhờ có đoàn du kích quân và những mạng lưới riêng, vẫn tồn tại. Về nước, Hồ ký lệnh thành lập "trung đội võ trang tuyên truyền giải phóng quân gồm 34 người giao cho Võ Nguyên Giáp điều khiển”. (5) Khi thấy lực lượng Việt Minh lớn mạnh, Pháp dự tính đem quân tiêu diệt. Nhưng còn đúng 3 ngày nữa khởi động thì bị quân Nhật thình lình đảo chính, bắt giam hết người Pháp. Tháng 6-1945, Hồ Chí Minh cho lệnh tấn công. Theo lời kể của Võ Nguyên Giáp sau này thì lúc đó do quá bệnh và yếu Hồ thều thào nói trong cơn mê sảng: "Dù cho phải đốt cả dẫy Trường Sơn thì cũng quyết dành cho được nền độc lập”. Trưng dẫn câu này, tác giả có thể chỉ nhắm ghi lại một sự việc thực tế hoặc đề cao tinh thần tranh đấu cho dân tộc của Hồ Chí Minh. Nhưng câu nói được trưng dẫn cũng cho thấy Hồ Chí Minh không phải con người ôn hòa và những chiến dịch vườn không nhà trống, tiêu thổ kháng chiến, những chiến thuật cảm tử, biển người hay cuộc chiến đẫm máu sau này không thể bảo do nhóm Lê Duẩn - Lê Đức Thọ hay các thủ hạ khác chủ trương và ép buộc Hồ Chí Minh phải chiều theo như nhiều tác giả vẫn nêu trong tác phẩm của mình. Ngày 29-8-1945, thành phần chính phủ do Hồ Chí Minh lãnh đạo được công bố. Theo Jean Lacouture, nhiều nhà báo thắc mắc Hồ Chí Minh là ai? Vài kẻ thạo tin bảo đó là lãnh tụ cộng sản Nguyễn Ái Quốc. Có người hỏi Hồ có đúng không thì ông chỉ khiêm tốn thoái thác. Jean Lacouture diễn tả Hồ Chí Minh vừa là người khiêm tốn muốn tránh né sự lưu tâm của mọi người vừa là người luôn đặt dân tộc lên cao hơn hết nên coi nhẹ việc xác định màu sắc lý tưởng của bản thân. Nếu tác giả nhìn sự việc trên qua bối cảnh chính trị Việt Nam và xu hướng tâm lý quần chúng lúc đó đối với Cộng Sản thì có thể nhận định khác hơn. Trong chương VII, tác giả thuật việc phái đoàn Mỹ tới Hà Nội cuối tháng 8-1945 đã được các người cộng sản hoan nghênh và "khi quốc thiều Mỹ nổi lên, chính Võ Nguyên Giáp giơ nắm tay lên chào kính.(CS chào bằng nắm tay). Họ muốn giữ liên lạc chặt chẽ với Mỹ ở Hà Nội. Họ khai thác triệt để tinh thần chống thực dân của người Mỹ đối với các vấn đề Á châu. Thiếu tá Archimèdes Patti, đại úy Farris và ngay cả tướng Gallagher thường thấy xuất hiện cùng với Hồ Chí Minh và chính phủ của ông, trong thời gian xung đột Việt Pháp sắp sửa xảy ra”… (6) Trong chương XI, tác giả tiếp tục ca ngợi Hồ Chí Minh là một kiểu mẫu cao nhất và hầu như độc đáo, một người có tương quan gắn bó nổi bật với quần chúng và là một người với sức xét đoán vượt trội, với những năng khiếu đột hứng và trí thông minh kỳ diệu để đóng vai hòa giải giữa các đám đông buộc phải đối đầu với chiến tranh vô tận với gian khổ, hà khắc hay một chế độ bạo tàn. (7) Tác giả minh chứng uy lực và bản lãnh vượt trội của Hồ Chí Minh bằng sự thuật lại những lời đối đáp với tướng Salan. Khi viên tướng Pháp hỏi Hồ Chí Minh rằng có lo ngại gì khi đi xa để đất nước trong tay những cán bộ trẻ nóng nảy như Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp không, ông Hồ đã trả lời: Họ làm được cái gì mà không có tôi? Chính tôi đã tác thành cho họ mà! Toàn bộ chương XII được Lacouture dành chứng minh Hồ Chí Minh vừa là người cách mạng vô sản, vừa là nhà ái quốc. Theo tác giả, “điều cần nhấn mạnh trên hết là sự lưỡng diện của mọi cử động của ông Hồ khiến ông trở thành một người theo chủ nghĩa dân tộc (quốc gia) trên hết, cũng như một người theo chủ nghĩa quốc tế trên hết, hơn tất cả các lãnh tụ cộng sản”. Lacouture giải thích về nhận định trên như sau: “Ông ta quốc gia nhất, vì không có lãnh tụ cộng sản nào khác đã thực hiện được cuộc cách mạng trong xứ sở mình với ít ngoại viện và ít cán bộ nước ngoài; không ai hết, kể cả Mao hay Tito hay Castro lại có thể mắc nợ người ngoài ít đến thế”. (8 )Tác giả đánh giá: "Quả thật, ông ta đã dấn thân vào một nỗ lực vô cùng tận để hoàn thành được sự tổng hợp giữa những yêu cầu của một bên là chủ nghĩa quốc tế vô sản và một bên là chủ nghĩa quốc gia dân tộc Việt Nam…” (9) Theo đà suy nghĩ dành trọn ưu ái cho đối tượng, tác giả nhìn thấy việc thành lập Mặt Trận Việt Minh, việc tuyên bố giải tán Đông Dương Cộng Sản Đảng rồi cho sống lại dưới cái tên Đảng Lao Động Việt Nam đều thể hiện tài trí và quyết tâm thực hiện chủ nghĩa quốc gia dân tộc của ông Hồ. Thậm chí tác giả còn cho rằng việc thay thế Đông Dương Cộng Sản Đảng bằng Đảng Lao Động là một thượng sách và là một bước tiến trên đường dân tộc hóa, vì đảng cũ có tính quốc tế, phi dân tộc do bao gồm cả Miên, Lào… trong khi Đảng Lao Động mang cái tên được định tính rõ rệt là đảng Lao Động Việt Nam. Thắc mắc của người đọc trước nhận định này là giới hạn hết sức khó hiểu về nhận thức chính trị của một tác giả tầm cỡ Jean Lacouture. Bởi vì chủ nghĩa quốc tế vô sản luôn xác định triệt để bác bỏ tinh thần quốc gia dân tộc, trong khi bất kỳ người tìm hiểu chính trị nào cũng dư tài liệu để hiểu dễ dàng nội dung bản đề cương chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa thuộc địa của Lê Nin có thể tóm tắt trong lời tuyên bố của Staline đã trở thành giáo điều bất khả di dịch về chiến lược chiến thuật đấu tranh Cộng Sản:“Tất cả mọi đảng Cộng Sản và công nhân, hãy giương cao ngọn cờ dân tộc, dân chủ mà tiến lên”. Người Cộng Sản không bao giờ theo đuổi mục tiêu tổng hợp giữa yêu cầu của chủ nghĩa quốc tế với yêu cầu của chủ nghĩa dân tộc mà chỉ coi chủ nghĩa dân tộc, dân chủ là phương tiện cần khai thác – những ngọn cờ chiêu bài – trong một thời kỳ nào đó trên đường tranh đấu. Việc Hồ Chí Minh tuyên bố giải tán Đảng Cộng Sản Đông Dương tháng 11-1945 chỉ là một bước lui chiến thuật để tránh áp lực chống đối và cái tên Đảng Lao Động Việt Nam ra đời cũng mang chung ý nghĩa. Những điều đó chỉ phản ảnh tài năng và thủ đoạn của Hồ Chí Minh trong hành động chứ không phản ảnh mục tiêu phụng sự của ông ta. Trên thực tế, Hồ Chí Minh đã trình diễn bộ mặt quốc gia dân tộc trước dư luận bằng thủ đoạn tinh vi vào những thời điểm cần che kín bộ mặt Cộng Sản. Người trình diễn bộ mặt quốc gia dân tộc và người theo chủ nghĩa dân tộc trên hết luôn luôn là hai người khác nhau. Jean Lacouture đã có 6 tác phẩm viết về đề tài Việt Nam không lẽ chưa từng đọc những tài liệu chính thức lưu trữ tại Viện Mác-Lênin nhắc tới sự hiểu lầm của một số người lúc đó như Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập về xu hướng tư tưởng của Hồ Chí Minh trong quan hệ giữa yếu tố dân tộc với yếu tố quốc tế khi hoạch định chiến lược, chiến thuật đã dẫn tới việc có lá thư của Ban Lãnh Đạo Hải Ngoại Đảng Cộng Sản Đông Dương gửi Quốc Tế Cộng Sản ngày 31-3-1935 với luận điệu gay gắt: “Những tàn dư của hệ tư tưởng dân tộc chủ nghĩa cách mạng ... là một trở ngại rất nghiêm trọng cho sự phát triển chủ nghĩa cộng sản... Chúng tôi đề nghị đồng chí Lin (tên Hồ Chí Minh lúc đó) viết một cuốn sách mỏng phê phán chính mình và những khuyết điểm đã qua” (10). Sự hiểu lầm này được “giải độc” (11) tại Mạc Tư Khoa nhân dịp Đại Hội 7 Quốc Tế Cộng Sản tháng 8-1935 tán trợ quan điểm vận dụng chính sách Mặt Trận Dân Tộc Thống Nhất để tiến hành đấu tranh. Quan điểm này được ghi lại trong nghị quyết Đại Hội Đông Dương Cộng Sản Đảng lần thứ 8 từ ngày 10 tới 19-5-1941 tại Pac Bó với diễn giải: “Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề giải phóng dân tộc... thì quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được” (12). Mục tiêu được nêu rõ ở đây là quyền lợi của bộ phận giai cấp còn vấn đề giải phóng dân tộc chỉ là bước đi sách lược bắt buộc phải qua. Hơn nữa, nếu cứ dứt khoát cho rằng Hồ Chí Minh là người muốn tổng hợp yếu tố dân tộc chủ nghĩa với yếu tố quốc tế vô sản chủ nghĩa, một người cộng sản quốc gia, thì thực tế đã cho thấy trong cảnh luôn bị kiềm tỏa, bị kiểm soát từng ý tưởng như thế, ông Hồ khó giữ nổi mạng sống chứ đâu có thể nhận được cái quyết định mật số 60 ngày 29-9-1938 từ Viện Nghiên Cứu Các Vấn Đề Dân Tộc Và Thuộc Địa của Quốc Tế Cộng Sản trao cho trở về nước tiếp tục công tác. (13) Một cứ điểm của Lacouture về tính quốc gia nhất của Hồ Chí Minh so với mọi lãnh tụ Cộng Sản khác như Mao Trạch Đông, Tito, Castro... là ít mắc nợ nước ngoài trong khi tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng ở nước mình. Trước hết, ít mắc nợ nước ngoài chưa hẳn đã là quốc gia nhất, vì Lênin, Stalin có thể còn ít mắc nợ nước ngoài hơn. Nhưng trên thực tế, Hồ Chí Minh có mắc nợ nước ngoài không? Cứ điểm trên của Jean Lacouture dù nhắm đề cao Hồ Chí Minh nhưng lại không được củng cố bằng bài báo chính thức sau của một tác giả Cộng Sản Việt Nam: Sáng ngày 10-1-1950, trong cảnh mùa đông rét mướt, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã bí mật rời khỏi thủ đô kháng chiến Tuyên Quang bắt đầu chuyến đi thăm Liên Xô, Trung Quốc. Một chuyến đi không tổ chức tiễn đưa linh đình và một tiểu đội tự vệ đã đưa Người lên Cao Bằng sang Trung Quốc qua cửa Thủy Khẩu - Long Châu, tỉnh Quảng Tây. Tại đây, ngày 20-1-1950, Người gặp Trần Canh, bạn chiến đấu Trung Quốc hồi Người ở Diên An (1938 ) và Trần Canh đã tổ chức đưa Người đi Bắc Kinh theo một mật lệnh của Thủ Tướng Chu Ân Lai. Từ Quảng Tây, Bác Hồ đến Bắc Kinh vào ngày 26-1-1950 và đồng chí Chu Ân Lai đã tổ chức đón tiếp và hội đàm với Người. Sau đó, Người cùng với Chu Ân Lai đáp máy bay từ Bắc Kinh sang thăm Liên Xô... Giữa tháng 2-1950, Xtalin tổ chức đón tiếp và hội đàm với Chủ Tịch Hồ Chí Minh tại điện Kremlin ... Hai bên đã quan tâm đến quan hệ giữa Đảng – Nhà Nước và sự viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam. Về quan hệ giữa Đảng và Nhà Nước, Xtalin đề nghị tạm thời chưa công khai mối quan hệ giữa hai Đảng vì lúc này Đảng ta chưa ra hoạt động công khai mà nhấn mạnh đến quan hệ giữa hai Nhà Nước. Trước mắt cần thành lập Đại Sứ Quán Việt Nam tại Liên Xô và sau đó cử vị Đại Sứ đầu tiên của nước ta ở Liên Xô là đồng chí Nguyễn Lương Bằng. Xtalin cũng đề nghị ta nên mở các chiến dịch lớn, mở rộng các khu giải phóng, nhất là khu vực tiếp giáp với Trung Quốc để tạo điều kiện thuận lợi cho mối quan hệ với các nước bên ngoài. Về viện trợ thì Liên Xô giúp đỡ Việt Nam cả về vật chất lẫn tinh thần. Trước mắt, Liên Xô viện trợ cho Việt Nam thuốc men, xe vận tải, các loại vũ khí nặng như pháo cao xạ, súng đại bác, cối hạng nặng... Viện trợ của Liên Xô sẽ được chuyển tới qua con đường Trung Quốc, vừa nhanh chóng vừa bí mật. Đây cũng là lý do để chúng ta mở chiến dịch Biên Giới tháng 10.1950 ... Đầu tháng 3.1950, Chủ Tịch Hồ Chí Minh rời Matxcơva bay về Bắc Kinh và ngày 4-3-1950, Người đã hội đàm với Thủ Tướng Chu Ân Lai. Trong cuộc hội đàm này, phía Trung Quốc đồng ý để vùng Quảng Tây tiếp giáp với Việt Nam làm nơi tiếp nhận viện trợ, điều dưỡng, chữa trị thương bệnh binh, mở lớp đào tạo, học tập, bồi dưỡng cho cán bộ, học sinh và cử một phái đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc qua Việt Nam mà Trưởng Phái Đoàn đầu tiên là tướng Trần Canh ...(14) Quá nhiều tài liệu và thực tế đã bác bỏ những lời thuyết phục của Jean Lacouture về tính lưỡng diện trong mọi cử động của Hồ Chí Minh vì từ tương quan, hành sử tới hướng suy nghĩ của Hồ Chí Minh không khi nào rời xa khỏi phong trào quốc tế vô sản. Chương XIII được tác giả dành để phân tích ảnh hưởng của Liên Xô và Trung Cộng đối với cách mạng xã hội Việt Nam, nhất là đối với cá nhân Hồ Chí Minh. Theo Lacouture, Hồ Chí Minh nghiêng về Liên Xô do chịu ảnh hưởng nhiều, mang ơn nhiều và cũng có cảm tình nhiều hơn. Tác giả viện dẫn sự kiện Hồ Chí Minh được Liên Xô cử làm phụ tá cho Borodin trong phái đoàn bên cạnh chính phủ Tôn Dật Tiên là một sứ mạng đặc biệt, sự kiện Hồ Chí Minh được cử làm đại diện Đệ Tam Quốc Tế để giải quyết mâu thuẫn giữa các đảng cộng sản tại Đông Dương, tổ chức, thành lập các đảng Cộng Sản Xiêm, Mã Lai, Nam Dương vv.., sự kiện Hồ Chí Minh được tham dự đại hội 6 Đệ Tam Quốc Tế trong khi Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai không được tham dự… để khẳng định Hồ Chí Minh phải nghiêng về phía Liên Xô hơn. Tác giả tăng thêm sức mạnh cho lập luận của mình bằng sự trưng dẫn một câu tuyên bố của Hồ Chí Minh khi trả lời Danielle Hunebelle, đại diện Truyền Hình Pháp, tháng 7-1964. Danielle Hunebelle hỏi: “Liệu Bắc Việt trong tình trạng bị cô lập có thể sẽ bó buộc trở thành một vệ tinh của Trung Cộng không? Ông Hồ giơ tay lên quả quyết: Không bao giờ!" (15) Dẫn chứng loại này khó có giá trị tích cực, vì cũng tương tự như lời cam kết của Hồ Chí Minh với tướng Trương Phát Khuê vào tháng 9-1944 là “tôi có một lời bảo đảm đặc biệt với ông rằng chủ nghĩa Cộng Sản sẽ chưa được thực hiện ở Việt Nam trong vòng 50 tới” (16) và câu trả lời “tôi luôn luôn là một người yêu nước, tranh đấu cho độc lập, thống nhất thật sự của tổ quốc tôi”, khi một nhà báo Mỹ đưa ra câu hỏi “Cụ có phải người Cộng Sản không” vào tháng 3-1949 (17). Dù vậy, tác giả vẫn tin Hồ Chí Minh mặn mà với Mạc Tư Khoa và tẻ lạnh với Bắc Kinh, đồng thời cho biết thái độ này không được chia xẻ bởi tất cả đảng viên, kể cả các ủy viên bộ chính trị. Tuy nhiên, tác giả tỏ ra dè dặt về trường hợp Lê Duẩn, cho rằng thái độ của Lê Duẩn là một bí ẩn (an enigma), vì các nhà phân tích kinh nghiệm như giáo sư P. J. Honey của Anh vẫn tin chắc Duẩn phải nghiêng về Liên Xô…trong khi thực sự Duẩn rất quyết liệt trong vấn đề chiến lược cách mạng. Cuối cùng, theo tác giả, Lê Duẩn là người theo lập trường trung dung tương tự Hồ Chí Minh nên ông Hồ mới trao cho chức bí thư thứ nhất. Chương XIV, Bác Hồ và Chú Sam, nói về liên hệ giữa Hồ Chí Minh và một số nhân vật Mỹ thời kỳ trước 1946, về bản yêu sách 8 điểm gửi đến hội nghị Versailles họp tại Pháp tháng 6-1919 do sáng kiến của tổng thống Mỹ Willson, về những lần Hồ Chí Minh dừng chân trên đất Mỹ khoảng 1915-1916, về viên phi công Shaw bị rớt máy bay được Phạm Văn Đồng dẫn đến gặp Hồ, về việc Hồ Chí Minh trích tuyên ngôn Độc Lập của Mỹ đem vào tuyên ngôn độc lập 2-9-1945, về cả bài thơ viết trong tù của Hồ Chí Minh có nhắc đến Wendell Willkie, ứng cử viên tổng thống đối thủ của Roosevelt, và về việc Hồ nghiên cứu Tam Dân chủ nghĩa của Tôn Dật Tiên, trong đó Tôn Dật Tiên nói nhiều đến Abraham Lincoln vv... Tác giả nhấn mạnh chính sách chống thực dân của tổng thống Mỹ Roosevelt… coi đó là điểm khiến Hồ Chí Minh thực lòng muốn có quan hệ tốt đẹp với Mỹ. Tác giả còn ghi rõ xu hướng ủng hộ, chống đối, hay ngờ vực ông Hồ của những nhân vật Mỹ ở Hà Nội, Sài Gòn, Hoa Nam đồng thời không quên cả sự kiện ở Hà Nội những năm 1945-46 đã có một hội Hữu Nghị Việt Mỹ và trên khắp phố phường luôn xuất hiện nhiều biểu ngữ bằng tiếng Anh, chứ không có biểu ngữ nào bằng tiếng Pháp, tiếng Trung Hoa, hay tiếng Nga vv... Tất cả những sự kiện lớn nhỏ được đưa ra để chứng tỏ Hồ Chí Minh không giành được sự ủng hộ của Mỹ không phải thiếu thành tâm cộng tác mà chỉ vì chính sách đối ngoại của chính quyền Truman lúc đó dựa theo quan điểm của nhà ngoại giao sành sỏi Dean G. Acheson đã bỏ đường lối của cố tổng thống Roosevelt để quay ra ủng hộ Pháp vì thấy rằng lúc ấy Pháp cần cho việc chống cộng sản thế giới. Tác giả viết chương này khá công phu, tham khảo tác phẩm của nhiều tác giả như Jean Sainteny, Hilaire de Berrier, Robert Shaplen, Devillers, Bernard Fall, Enrica Colotti-Pischel... và trích nhiều đoạn trong Hồ Chí Minh tuyển tập. Với khối lượng tài liệu đó, tác giả phân tích tương đối kỹ từng hành động, thái độ của ông Hồ và còn tỏ ra không muốn gạt bỏ những lời phê bình chỉ trích Hồ Chí Minh là kẻ giả dối, nham hiểm, có nhiều hậu ý được toan tính kỹ cho hành động... Chương này đóng góp lớn cho việc tạo sức lôi cuốn của tác phẩm, tuy nhiên hình ảnh Hồ Chí Minh vẫn hiện ra với những màu sắc nghiêng về phía biểu hiện cảm quan riêng của tác giả. Chương XV cũng là chương cuối, Trận Đánh Cuối Cùng, mở đầu bằng lời của ông Hồ: “Hôm nay là trường hợp con châu chấu chọi với con voi. Nhưng ngày mai con voi sẽ bị mổ lòi ruột ra” . Hồ Chí Minh lấy ý từ một ngạn ngữ Việt Nam "Nực cười châu chấu đá xe, Tưởng rằng chấu ngã chẳng dè xe nghiêng” và có lẽ đã đổi thành "Hôm nay châu chấu chọi voi. Ngày mai voi sẽ bị lòi ruột ra” . Jean Lacouture viết chương này năm 1967 khi cuộc chiến Việt Nam đang sôi bỏng. Tác giả gần như dành trọn ba chục trang sách cho chủ đề truy tầm trách nhiệm gây chiến thuộc về ai. Để giải đáp, tác giả phân tích tỉ mỉ nhiều sự kiện với các tài liệu chứng minh lòng yêu nước, yêu hòa bình của Hồ Chí Minh, chứng minh thái độ chống đối của nhân dân miền Nam với chính quyền Ngô Đình Diệm và tinh thần hiếu chiến của chính giới Mỹ. Về con người Hồ Chí Minh, tác giả ghi lại cuộc gặp gỡ với ông Hồ tháng 11-1961, khi tác giả tới Hà Nội và được Phạm Văn Đồng đang là Thủ Tướng lúc đó tiếp kiến. Tác giả kể lại lúc ông đang cùng Phạm Văn Đồng bàn về những vấn đề chính trị, chiến tranh, tìm xem có cách nào để Pháp đứng ra làm trung gian hòa giải ... thì Hồ Chí Minh mở cửa bước vào. "Tiếng chân đi nhẹ nhàng tựa hồ tiếng kêu xào xạc của tơ lụa. Ông Hồ mỉm cười và làm hiệu cho chúng tôi cứ ngồi. Rồi nói: "Thủ tướng giải thích về chính sách tốt hơn tôi. Tôi chỉ tới dự như một người bạn và chuyện gẫu về thời xa xưa. Bây giờ thành phố Paris thế nào?” (18 ) Cung cách xuất hiện đó của một nhân vật lãnh đạo quả tình dễ tạo ấn tượng sâu sắc và đầy sức lôi cuốn. Jean Lacouture khó rời xa quan niệm về tính lưỡng diện của Hồ Chí Minh vừa yêu chủ nghĩa cộng sản vừa yêu nước nên luôn cho rằng ông Hồ chủ trương tiến hành thống nhất trong hòa bình như hiệp ước Genève 1954 quy định là sẽ tổ chức Tổng Tuyển Cử vào tháng 7-1956. Chính quyền Ngô Đình Diệm dưới áp lực của Mỹ bác bỏ việc mở Tổng Tuyển Cử (19) nên Hà Nội không còn con đường nào khác để đi tới thống nhất ngoài việc ủng hộ các cuộc nổi dậy của nhân dân miền Nam từ 1957, nhất là từ tháng 9-1959. Tác giả trưng dẫn Gerald C. Hickey viết trong Làng xã tại Việt Nam rằng ngay từ 1958 ở miền Nam đã có tổ chức gọi là Mặt Trận Giải Phóng và Harold Hinton thuộc đại học George Washington nói cuộc cách mạng chống phe Diệm đã bắt đầu từ 1957. Mốc thời gian 1957-1958 được nhấn mạnh để chứng minh cuộc chiến nổ ra là do chính nhân dân miền Nam nổi lên chống chính quyền miền Nam không chịu thi hành hiệp ước Genève 1954 mở Tổng Tuyển Cử để thống nhất đất nước vào năm 1956 chứ Hồ Chí Minh và chế độ Hà Nội hoàn toàn không chủ trương gây chiến. Tác giả còn trưng dẫn lời bộ trưởng ngoại giao Trần Văn Đỗ của miền Nam lúc ấy công nhận trong mấy năm trước 1960 chỉ có 300 quân Bắc Việt xâm nhập miền Nam. Cách diễn tả được hỗ trợ bằng nhiều tài liệu vẫn lộ rõ ý hướng dắt dẫn người đọc hiểu rằng cuộc chiến nổ ra do dân chúng miền Nam nổi dậy chống chính quyền miền Nam theo Mỹ đi ngược nguyện vọng thống nhất của dân tộc và mức hỗ trợ quân sự của Hà Nội dành cho phong trào tranh đấu tại miền Nam hoàn toàn không đáng kể, nếu không có sự kiện Mỹ ồ ạt đưa quân tới sau 1963. Tuy thế, tác giả không dám xác quyết hẳn về tính chất độc lập của tổ chức Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam mà nhận định rằng ban đầu được thành lập do cùng thỏa thuận với nhau, về sau được Hà Nội ủng hộ và che chở để trở thành "tự trị về chiến thuật, nhưng bị kiểm soát về chiến lược”. (20) Tác giả cũng đưa ra một thời khoảng lu mờ của Hồ Chí Minh từ 1961 đến 1964 trên chính trường miền Bắc và nhắc đến việc nhà vô địch về du kích Lê Duẩn trở thành bí thư thứ nhất của Đảng từ tháng 9-1960. Thời khoảng 1961-1964, chiến cuộc miền Nam thực sự chuyển hướng để bùng nổ dữ dội nên có vẻ tác giả muốn viện dẫn tình trạng lu mờ để giữ nguyên tính ôn hòa của Hồ Chí Minh và nhìn nhận Hồ Chí Minh đã bị nhóm Lê Duẩn lấn áp. Nhưng như thế thì tác giả lại quên bản thân tác giả từng cho là Lê Duẩn có thể theo con đường trung dung và chính Hồ Chí Minh đã ủng hộ việc đưa Lê Duẩn lên nắm chức bí thư thứ nhất vì Lê Duẩn có chủ trương tương tự về vấn đề thống nhất. Dù vậy, tác giả vẫn trút trách nhiệm gây chiến cho chính quyền miền Nam, nhất là chính quyền Mỹ. Về sự kiện này, tác giả nhắc lại vai trò của Mỹ phía sau cuộc đảo chính 1-11-1963 tại Sài Gòn và cho rằng "ông Diệm đã phải lấy mạng sống trả giá sự thất bại, sự vụng về và ý muốn làm một đồng minh quá độc lập không đúng lúc (21) của Hoa Kỳ”. Tác giả cũng nhắc thêm lời ông Hồ nói với một nhà ngoại giao Ấn Độ vài tuần trước khi ông Diệm chết "Diệm có thể là người yêu nước, theo cách của ông ta", để nhấn mạnh về sự can thiệp của người Mỹ mà theo tác giả diễn tả thì sau cái chết của 2 nhân vật lãnh đạo Ngô Đình Diệm và Kennedy trong tháng 11-1963, những người hiếu chiến tha hồ đem chiến tranh vào Việt Nam. Sau khi trút hết cho Mỹ trách nhiệm gây chiến với nhiều sự việc chứng minh, tác giả giải thích lời bác bỏ ngưng chiến của Hà Nội vào lúc Mỹ ngỏ ý muốn thương lượng là do thực tế tình hình đã đẩy cả hai phe vào thế phải tiếp tục chiến tranh. Tác giả ghi nhận là Hà Nội tỏ ra cứng rắn sau khi Hồ Chí Minh sang Bắc Kinh gặp Mao Trạch Đông nhưng cho rằng Hồ Chí Minh không bị Bắc Kinh chi phối vì Mao không thể ra lệnh hòa hay chiến cho Hà Nội được. Jean Lacouture đã đưa ra hàng loạt sự kiện theo sách vở, báo chí, lời phát biểu của các nhân vật và phân tích tỉ mỉ với cái nhìn khá thấu đáo. Có điều, nhiều tài liệu cũng có giá trị đóng góp không thiếu ý nghĩa lại không được nhìn đến, đặc biệt là hàng đống tài liệu phản ảnh chủ trương, hành động của Hồ Chí Minh và chính quyền Miền Bắc được ghi lại rất chi tiết trong các hồ sơ chính thức. Trước hết, mọi tài liệu của Hà Nội đều ghi rõ và không ngừng lập lại hai nhiệm vụ chiến lược do Chủ Tịch Hồ Chí Minh và Đảng đề ra cho toàn quân, toàn dân là “Xây dựng, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa và đấu tranh giải phóng miền Nam”. Và, chỉ cần nhìn lướt qua tập 8 của bộ hồ sơ chính thức Hồ Chí Minh, biên niên tiểu sử đã có thể đối diện với hàng loạt sự việc và lời nói của Hồ Chí Minh diễn tả ý hướng và chủ trương của ông ta liên hệ tới cuộc chiến tại miền Nam Việt Nam ra sao. Ngày 7-5-1956, Hồ Chí Minh đưa ra lời tuyên bố về nhiệm vụ của Quân Đội, nhấn mạnh rằng: “Quân đội ta phải tiến đến chính quy và hiện đại hóa để bảo vệ công cuộc xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội ở miền Bắc và hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà”. (22) Về tiến hành đấu tranh tại miền Nam, Hồ Chí Minh phân tích trong phiên họp Bộ Chính Trị ngày 20-1-1961 như sau: “Cần phân tích chỗ yếu, chỗ mạnh của địch, từng hoàn cảnh để hành động, phải đề phòng nổi dậy non, chủ quan, nhưng cũng tránh bỏ lỡ cơ hội... Trước tình hình này, chú ý vũ trang nhưng phải coi trọng hàng đầu công tác xây dựng Đảng”. (23) Tại phiên họp Bộ Chính Trị ngày 2-10-1961, về cùng vấn đề, Hồ Chí Minh nhấn mạnh:“Miền Nam cần nhận định thêm tình hình quốc tế để đối phó cho khéo... Ta không lấy đấm trị đấm mà lấy mưu mẹo diệt nó, trừ bọn ác đi để bảo vệ cơ sở, phong trào dần sẽ lên”. (24) Ngày 3-12-1961, Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng lần thứ 6 thảo luận về việc đưa Đảng Bộ miền Nam ra công khai dưới tên gọi Đảng Nhân Dân Cách Mạng Miền Nam Việt Nam với lập luận Miền Nam đã có Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng thì cũng phải có chính đảng của mình. (25) Tháng 9-1963, khi đi nghỉ tại Quảng Châu, Hồ Chí Minh đã gặp gỡ Chu Ân Lai, Trần Nghị và phát biểu về cuộc chiến tại miền Nam: “Đừng nói phải đánh 5 năm, 10 năm, dù có 20 năm, 30 năm, thậm chí 50 năm cũng phải đánh”. (26) Hồ Chí Minh còn chỉ thị trực tiếp về những việc cụ thể. Ngày 10-12-1963, tại phiên họp Bộ Chính Trị về cuộc chiến miền Nam, Hồ Chí Minh đã chỉ thị: “Nên nêu khẩu hiệu “Người Việt không đánh người Việt”. Và, giải thích thêm: “Ta vừa tiêu diệt, vừa tuyên truyền”. (27) Đây là thời khoảng mà theo Lacouture, Hồ Chí Minh bị lu mờ. Nhưng sự hiện diện liên tục kể trên của Hồ Chí Minh trong các hoạt động của Đảng lại chứng tỏ ngược lại. Ngoài ra, ý hướng biểu lộ qua lời lẽ, công việc chỉ cho thấy Hồ Chí Minh luôn chủ trương dùng võ lực để giải quyết vấn đề thống nhất. Cũng qua biểu lộ từ những lời lẽ và hoạt động trên, hình ảnh người yêu nước của Hồ Chí Minh đã nhòa nhạt hẳn dưới hình ảnh một con người đầy tham vọng và cuồng tín theo đuổi lý tưởng riêng của mình, một con người không chỉ nham hiểm xảo trá mà còn không hề tiếc xương máu đồng bào trên phương diện hành động đấu tranh. Trên thực tế, Cộng Sản Việt Nam đã chuẩn bị cơ sở cho việc thực hiện chủ trương này từ giữa năm 1954 qua việc cài người nằm lại bí mật tại miền Nam dưới rất nhiều hình thức. Dựa theo vài ý kiến và tài liệu mơ hồ của những người hoàn toàn xa lạ với thực tế Việt Nam như Gerald C. Hickey, Harold Hinton... để kết luận cuộc chiến Việt Nam do người dân miền Nam nổi dậy chống chính quyền miền Nam sau năm 1956 là thiếu cân nhắc nếu không muốn nói là cố tình xuyên tạc sự thực, nhất là khi coi Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam là một tổ chức chính trị hoàn toàn tự phát của nhân dân miền Nam chứ không phải bộ phận công cụ của Cộng Sản Hà Nội. Về điểm này, chính Lacouture đã chỉnh lại quan điểm của Gerald C. Hickey bằng ý kiến cho rằng tổ chức được thành lập do cùng nhau thỏa thuận với sự ủng hộ của Hà Nội nhưng về sau chỉ còn là tổ chức tự trị về chiến thuật trong khi bị Hà Nội kiểm soát về chiến lược. Ngay ý kiến này của Lacouture cũng xa rời thực tế vì thực tế đã xác nhận dứt khoát rằng đó chỉ là một tổ chức do Cộng Sản Hà Nội dựng lên làm chiêu bài cho việc tấn công miền Nam bằng quân sự mà thôi. Cho nên chỉ có thể nhìn cuộc chiến miền Nam là hậu quả tất yếu của chủ trương dành quyền thống trị cho người Cộng Sản tại Việt Nam và là bước đi tiếp nối trong chiến lược đấu tranh dưới ngọn cờ dân tộc chủ nghĩa mà Stalin đã hoạch định và Hồ Chí Minh triệt để tuân thủ từ những năm trước 1940. Cuộc chiến đó là không thể tránh khi người Cộng Sản chưa nắm trọn được quyền hành. Ngay cả trường hợp có tổng tuyển cử thống nhất năm 1956 nhưng nếu kết quả nghiêng về phía miền Nam chẳng hạn thì dù có sự can thiệp của người Mỹ hay không, cuộc chiến vẫn bùng nổ bằng những lý do nào đó. Cuộc chiến hoàn toàn không nhắm giải quyết nguyện vọng của người dân mà chỉ nhắm mở rộng ảnh hưởng của chủ nghĩa Cộng Sản. Lúc tác giả kết thúc tác phẩm thì chiến tranh chưa kết thúc và Hồ Chí Minh chưa qua đời. Tác giả đã tiên tri rằng “nếu ông Hồ không thể thấy nước ông được độc lập, thống nhất thì đàn em ông sẽ còn sống để thấy điều đó”. Lacouture có thể rất vui khi thấy lời tiên tri của mình trở thành sự thực vào tháng 4-1975. Nhưng cái đất nước Việt Nam thống nhất và độc lập mà Lacouture vẫn nghĩ là Hồ Chí Minh dành trọn đời để đấu tranh đạt tới có phù hợp với nguyện vọng của người dân không? Câu trả lời đã được chính Lacouture đưa ra trong tác phẩm Le voyage à travers une victoire viết vào năm 1976, sau chuyến viếng thăm Sài Gòn. Cái thực tế não nề khiến tác giả hoàn toàn thất vọng kia hẳn không thể tách rời khỏi mục tiêu cuộc đấu tranh của nhân vật mà tác giả từng khâm phục! CHÚ THÍCH CHƯƠNG 02 _______________________________ (*) Tiếng Pháp là Jésuite. Gọi Dòng Tên, vì lấy tên Chúa Giêsu (Jesus) đặt cho dòng. Chữ Jésuite từ chữ Jesus mà ra. (01) SĐD tr. 4 (02) Năm 1950 (03) Từng là toàn quyền Đông Dương (04)-(05)-(06) SĐD tr. 34, 89, 115 (07) SĐD tr.205-215, nguyên văn: HCM is first and foremost a man of original and personal style, a man with a distinctive relationship with the people... Hồ with his magisterial powers of judgement, his inspirational gifts and his miraculous ability to act as mediator among masses, doomed to never-ending war, austerity and a harsh, often brutal regime. (08 )-(09) SĐD tr. 23, 233 (10) Đỗ Quang Hưng – Thêm những hiểu biết về Hồ Chí Minh – Nxb Lao Động, Hà Nội 1999. (11) Đỗ Quang Hưng đặt từ này trong ngoặc kép. (12) Văn Kiện Đảng 1930-1945 – T. III, tr. 196 (13) Hồ Chí Minh nhận quyết định số 60 ký ngày 29-9-1938 sau khi gửi thỉnh nguyện thư cho một cán bộ Quốc Tế Cộng Sản. Hồ Chí Minh về Nga năm 1934 dự Đại Hội 7 Quốc Tế Cộng Sản tháng 8-1935 và Đại Hội 6 Quốc Tế Thanh Niên tháng 9-1935. Năm 1936, Hồ Chí Minh xin về hoạt động tại Đông Dương nhưng được lưu lại Viện Nghiên Cứu Các Vấn Đề Dân Tộc và Thuộc Địa và không được giao công tác gì nên ngày 6-6-1938 đã viết lá thư thỉnh nguyện có những câu sau: “Tôi viết thư gửi đồng chí để xin đồng chí giúp đỡ tôi thay đổi tình cảnh đau buồn này. Đồng chí hãy phân tôi đi đâu đó. Hoặc là giữ tôi ở lại đây. Hãy giao cho tôi làm một việc gì mà theo đồng chí là có ích. Điều tôi muốn đề nghị đồng chí là đừng để tôi sống quá lâu trong tình trạng không hoạt động và giống như là sống ở bên cạnh, ở bên ngoài Đảng..” – HCM, BNTS –T.2, tr. 60 (14) Hồ Thức Hòa – Lao Động, Xuân Canh Thìn, Hà Nội 2000. (15) SĐD tr. 248 (16) Hồ Chí Minh, Biên Niên Tiểu Sử – T.2, tr. 205 (17) Hồ Chí Minh Toàn Tập – T.5, tr. 575 (18 ) SĐD tr. 283-284 (19) Lúc đó, chính quyền Miền Nam chỉ nêu điều kiện tiên quyết là Miền Bắc phải ban hành các quyền tự do căn bản, đặc biệt là tự do ngôn luận để tiến tới Tổng Tuyển Cử. (20) SĐD tr. 294, nguyên văn:Tactically autonomous,strategically controlled. (21) SĐD tr. 285, nguyên văn:unduly independent ally. (22)-(23)-(24)-(25)-(26)-(27) HCM, BNTS –T.8, tr. 164, 21, 150, 176, 457, 492.
Re: HỒ CHÍ MINH - Nhận Định Tổng Hợp*Chương 03* PIERRE BROCHEUX và Hồ Chí Minh Tác phẩm về Hồ Chí Minh của Pierre Brocheux, chuyên gia Pháp về các vấn đề Đông Dương, mang tựa đề Hồ Chí Minh do Presses de Sciences PO xuất bản tháng 5-2000. So với tác phẩm của Jean Lacouture (1970), David Halberstam (1971), Nguyễn Khắc Huyên (1971) Wilfred Burchett (1972), Paul Mus (1972)… và của Daniel Hemery (1990) rồi William J. Duiker (2000) là những tác giả nổi tiếng về tiểu sử Hồ Chí Minh thì đây là tác phẩm tương đối mới, không những về thời gian phát hành mà cả về cách nhìn. Đặc biệt trong phần thư mục, tác giả đã nêu tên hoặc tác phẩm của một số nhân vật Việt Nam thuộc phía quốc gia tại hải ngoại như các giáo sư Lê Hữu Mục, Tôn Thất Thiện, Nguyễn Khắc Huyên, Bùi Xuân Quang… Giáo sư Bùi Xuân Quang còn được nêu trong số 10 người được tác giả ghi ơn vì đã giúp ông hoàn thành tác phẩm. Tác giả cho biết đã đọc tác phẩm Hồ Chí Minh, a life của W. J. Duiker, khi còn là bản thảo (1). Như thế, có thể bảo Brocheux đã hoàn thành cuốn Hồ Chí Minh với cả tài liệu, ý kiến và kinh nghiệm của Duiker. Khi cả hai cuốn sách cùng ra trong năm 2000, bà Judy Stow, nhà bỉnh bút của đài BBC, đã so sánh và cho rằng Pierre Brocheux cân nhắc, thận trọng hơn, nêu lên được nhiều nghi vấn không thấy trong tác phẩm của Duiker. Theo Judy Stow, Duiker vẫn nhìn Hồ Chí Minh theo cái nhìn cũ dù nhiều tài liệu mật về cộng sản thế giới đã được bạch hóa do tình hình thay đổi. Riêng Brocheux tỏ ra thận trọng khi đặt mọi giá trị nhận định trên hai yếu tố thời gian và thực giả đan xen của những sự kiện. Về thời gian, Brocheux cho rằng chưa đủ mức để những xúc động thời thế lắng xuống hầu đạt tới cái nhìn thật chính xác về một nhân vật lịch sử như Hồ Chí Minh. Cũng từ yếu tố thời gian này nên chưa thể phân biệt rạch ròi giữa chính sử với huyền thoại vốn luôn luôn đan xen, chồng chéo trên nhân vật Hồ Chí Minh. Sách gồm 18 chương gom vào 2 phần chính. Chương 1, phần I, tác giả dành thuật lại những gì Hồ Chí Minh viết về mình dưới bút hiệu Trần Zân Tiên (2) và T.Lan trong hai cuốn Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch và Vừa đi đường vừa kể chuyện. Đây là điểm khác biệt hẳn so với các tác phẩm viết về Hồ Chí Minh đã xuất bản. Trong các tác phẩm này, không tác giả nào dành hẳn một chương để nói về những điều mà Hồ Chí Minh tự viết về chính mình. Brocheux không chỉ đề cập tới cuốn sách do Hồ Chí Minh dùng bút hiệu khác để tô điểm cho mình mà còn nhìn cung cách lưu tâm của Hồ Chí Minh dành cho cuốn sách như một sự kiện cần lưu ý. Theo Brocheux, vào năm 1948, Hồ Chí Minh đã có bản dịch Pháp ngữ cuốn Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch trao cho một nhân viên phụ trách phòng thông tin Cộng Sản Việt Nam ở Ngưỡng Quang, Miến Điện, tên Hoàng Nguyên, chỉ thị cho nhân vật này tìm người dịch ra Anh ngữ và sau này ra nhiều thứ tiếng khác. Tác giả cho rằng chủ đích của Hồ Chí Minh đặt vào hai cuốn sách này là khiến cho người dân yêu mến lãnh tụ và vững tin vào chiến thắng cuối cùng của chủ nghĩa cộng sản. Chủ đích thứ nhất nằm trong cuốn Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch còn cuốn Vừa đi đường vừa kể chuyện dành cho chủ đích thứ hai. Tác giả trích dẫn từ cuốn Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch: "Đàng khác ông (Hồ) yêu trẻ con và chúng yêu ông. Lòng hiếu thảo được chia sẻ: "Nhân dân gọi Hồ chủ tịch là "Cha Già của dân tộc”. (3) Tác giả chỉ trích dẫn mà không bình luận. Tuy nhiên, câu trích dẫn trên từ bản dịch Pháp ngữ khó thể có tác động làm nẩy ra những ý nghĩ về Hồ Chí Minh so với cái đoạn nguyên tác tiếng Việt mà chính Hồ Chí Minh đã viết như sau: “Mọi người kính mến Hồ Chủ Tịch, nhất là thanh niên và nhi đồng. Ở ngoài mặt trận khi xung phong các chiến sĩ hô lớn: “Vì Tổ Quốc và vì Bác Hồ, tiến lên!” Vì Bác Hồ mà những người lao động trong nhà máy và trên đồng ruộng tăng thêm năng suất. Đối với nhi đồng, tên Bác Hồ như là một người mẹ hiền. Chỉ nhắc đến tên Bác là các em trở nên ngoan ngoãn. Về Hồ Chủ Tịch, còn nhiều chuyện khác, viết thành nhiều quyển sách nhỏ, làm thành những bài hát, bài thơ. Một vài chuyện nhỏ kể dưới đây cũng đủ tỏ lòng kính mến của nhân dân Việt Nam đối với Bác Hồ. Một bức ảnh nhỏ của Người ở Hà Nội có đồng bào mua tới giá một trăm ba mươi vạn đồng. Ở Nam Bộ, một chiến sĩ du kích họa sĩ bị thương ở chiến trường, trong khi chờ đợi cứu thương đến, đã lấy máu mình vẽ lên áo ảnh Hồ Chủ Tịch. Hội Phụ Nữ Cứu Quốc gửi tặng Hồ Chủ Tịch một bộ áo lụa. Hồ Chủ Tịch tặng anh em thương binh bộ áo này. Ban Tổ Chức Giúp Đỡ Thương Binh đem bán đấu giá bộ áo này, thu được bốn mươi sáu vạn bảy nghìn đồng. Nhưng rất nhiều đoàn thể nhân dân từ Nam đến Bắc yêu cầu kéo dài thời hạn bán đấu giá, mong mua được bộ áo ấy với giá đắt hơn. Những chuyện như trên còn nhiều, kể không hết được. Thanh niên, nhi đồng các nước bạn cũng thường gửi thư thăm hỏi Bác Hồ. Nhân dân gọi Chủ Tịch là Cha Già của dân tộc, vì Hồ Chủ Tịch là người con trung thành nhất của Tổ Quốc Việt Nam”. (4) Giả dụ mọi chuyện ghi trên không hề bịa đặt thì khi nghe một người khác kể lại về mình như vậy, một người thành thực và khiêm cung hẳn khó tránh áy náy về sự tâng bốc mà mình nhận được. Nhưng đây lại là những dòng chữ do một người mượn tên khác để tâng bốc bản thân trước quần chúng thì con người đó sẽ được nhìn ra sao? Brocheux không bình luận có lẽ vì thấy chẳng cần bình luận và cũng có thể vì chưa dứt khoát theo một cách đánh giá nào đó. Riêng người đọc có thể thấy cái danh hiệu tôn sùng Cha Già Dân Tộc đã do Hồ Chí Minh đưa ra gợi ý rất sớm (5) rồi sau này thành mệnh lệnh cho đàn em tôn sùng và truyền bá sự tôn sùng đó trong quần chúng. Nhưng nếu Brocheux có thể im lặng không đưa ra một bình luận nào thì nhà báo Mỹ David Halberstam hẳn phải nghĩ về một nhận định từng nêu ra trong tác phẩm viết về tiểu sử Hồ Chí Minh với tựa đề Ho. Halberstam từng quả quyết: "Titô, Stalin, Khrutschev, Mao Trạch Đông... hết thẩy đều mắc bệnh tôn sùng cá nhân. Riêng Hồ Chí Minh thì không”! (6) Thật khó hình dung nổi một người không hề mắc bệnh tôn sùng cá nhân mà lại muốn người dân khắp nước gọi mình là Cha già dân tộc, muốn những chiến binh đang quằn quại với thương tích giữa mặt trận nghĩ ngay tới việc lấy máu để vẽ hình ảnh mình, muốn đặt mình ngang với tổ quốc qua cái khẩu hiệu tự chế “Vì Tổ Quốc và vì Bác Hồ Tiến lên !” .... Trong cuốn Vừa đi đường vừa kể chuyện, Hồ Chí Minh dành một số trang nói về sự tàn ác của Đức Quốc Xã, về những khó khăn trở ngại của Liên Xô và Trung Cộng trong cuộc chiến chống kẻ thù, nhưng cuối cùng bao giờ Cộng Sản cũng chiến thắng. Brocheux cho rằng Hồ Chí Minh nhắc lại những chuyện này để khuyên nhân dân Việt Nam nuôi chí quyết thắng và cũng là cách in vào tâm trí nhân dân sự tin tưởng chắc chắn rằng cuối cùng chủ nghĩa cộng sản vẫn toàn thắng. Ông Hồ kết thúc cuốn sách Vừa đi đường vừa kể chuyện bằng câu: Chủ nghĩa xã hội chắc chắn sẽ là một thực tại trên toàn thế giới: điều đó cũng sáng tỏ và chắc chắn như mặt trời mọc ở hướng Đông. (7) Đoạn này trong tác phẩm Vừa đi đường vừa kể chuyện bản tiếng Việt do Hồ Chí Minh viết như sau: “Những câu chuyện trên đây Bác vừa đi đường vừa kể. Tối đến chỗ nghỉ, chúng tôi nhớ được chừng nào ghi lại chừng nấy. Từ những câu chuyện đó, chúng tôi càng thấy rõ: – Một là lực lượng của Mỹ-Tưởng mạnh như thế (hơn 8 triệu quân) mà cũng bị giải phóng quân đánh tan; phát xít Đức-Ý-Nhật hung dữ như thế mà cũng bị hồng quân Liên Xô tiêu diệt. – Hai là, phe đế quốc chủ nghĩa ngày càng suy sụp, phe xã hội chủ nghĩa ngày càng lớn mạnh. – Ba là, trước đây phát xít Đức đã hết sức dùng mọi cách hung ác trong âm mưu chống Cộng, kết quả chúng đã thất bại một cách tồi tàn. Ngày nay, đế quốc Mỹ đang đi theo vết xe chống Cộng của Hitle, chắc chắn rằng số phận của đế quốc Mỹ cũng sẽ kết thúc một cách thảm hại như số phận của Hitle. – Bốn là, chủ nghĩa xã hội nhất định sẽ thực hiện khắp thế giới: Điều đó cũng rõ rệt và chắc chắn như mặt trời mọc từ phương Đông”. (8 ) Lưu tâm đặc biệt tới hai cuốn sách này, Brocheux tỏ ra thận trọng và phân tích sự việc tương đối khách quan hơn Duiker trong việc xác định xu hướng lý tưởng của Hồ Chí Minh. Brocheux không bị chìm ngập giữa khối lượng tài liệu để lâm cảnh cây che mất rừng và lẫn lộn giữa thuật chuyện với phân tích sự việc (9) như cảnh Duiker vướng phải và Borcheux đã nhận ra, khi đọc bản thảo của tác giả này. Brocheux còn dành thêm 2 chương khác dẫn những ý kiến ngược chiều về Hồ Chí Minh. Qua 2 chương này, Brocheux có vẻ muốn chứng tỏ sự vô tư trong khi nhận định bằng cách đối diện với cả lời khen lẫn tiếng chê. Nếu trước mắt Brocheux đã hiện ra một Hồ Chí Minh trong vóc dáng của nhà hiền triết, nhà ngoại giao lỗi lạc... qua diễn tả của các đồng chí, các thủ hạ, thì Hồ Chí Minh cũng hiện ra trong vóc dáng một kẻ đạo văn, kẻ chuyên đóng kịch... qua diễn tả của phía chống đối. Nhưng Brocheux không hoàn toàn khách quan như muốn chứng tỏ qua cách thức cân nhắc các tài liệu được vận dụng, chính xác hơn là cách thức cân nhắc những tài liệu thuộc phía chống đối. Tuy dành hẳn một chương cho những tài liệu này, Brocheux đã đọc tài liệu trong sự bán tín bán nghi và thường ngả theo xu hướng sẵn sàng bác bỏ hoặc đẩy sự việc về một phía nào đó không liên quan tới đối tượng đang hiện ra trước mắt. Chẳng hạn Brocheux đã hai lần nhắc đến Hoàng Văn Hoan nhưng chỉ nhắc để nói về việc Hoàng Văn Hoan kết tội Lê Duẩn, rồi kết luận đó là sự thanh toán một món nợ giữa hai cá nhân Hoan – Duẩn mà thôi. Tất nhiên trên căn bản đó, mọi phát biểu của Hoàng Văn Hoan trở thành không đáng tin dù qua những phát biểu này, người đọc có thể nhận diện chính xác Hồ Chí Minh với những sự việc diễn ra liên tục nhiều năm từ thuở Hồ Chí Minh trà trộn giữa hàng ngũ những người cách mạng Việt Nam tại Hoa Nam trước 1945. Ngay cả khi trưng dẫn Bảo Đại và Vũ Thư Hiên để nói về chuyện Hồ Chí Minh đóng kịch, Brocheux cũng tỏ ra không tin đó là những lời nói thật. Thậm chí khi trích lời Vũ Đình Hùynh do Vũ Thư Hiên ghi lại trong tác phẩm Đêm Giữa Ban Ngày, Brocheux vẫn dè dặt viết thêm “Nếu người ta chấp nhận lời chứng của Vũ Đình Huỳnh ... – Si l'on accepte le témoignage de Vũ Đình Huỳnh…” (10) Tác phẩm Đêm Giữa Ban Ngày với độ dày bảy trăm trang chứa đựng rất nhiều sự kiện phản ảnh cái nhìn về Hồ Chí Minh của nhiều thành phần khác nhau ngay tại miền Bắc Việt Nam đều không được Brocheux nhắc tới, kể cả những vụ án chính trị tàn khốc như vụ tướng Lê Liêm bị Hồ Chí Minh hứa hỗ trợ rồi bỏ mặc cho thủ hạ trấn áp và chuyện Phó chủ tịch Quốc Hội Dương Bạch Mai bị đầu độc do chống lại nghị quyết 9 thúc đẩy đưa quân xâm nhập miền Nam... Brocheux còn bỏ quên nhiều tác phẩm chứa đựng các sự việc phản ảnh con người Hồ Chí Minh của nhiều tác giả chống đối hay Cộng Sản ly khai như Kiều Phong, Việt Thường, Hoàng Văn Chí, Hoàng Quốc Kỳ... Vì vậy, chỉ riêng cái tài đóng kịch của Hồ Chí Minh đã khiến Brocheux băn khoăn bán tín bán nghi dù có thể khẳng định đóng kịch đã trở thành bản tính tự nhiên – une seconde nature – do là thói quen lâu năm của ông Hồ. Cảm tưởng rõ rệt của người đọc khi gấp cuốn sách lại là Brocheux chỉ nhìn vào tài liệu sách vở mà không nhìn vào các sự kiện lịch sử Việt Nam trong thời gian Hồ Chí Minh nắm quyền như thanh toán người đối lập, kể cả người chung lý tưởng cộng sản – phe đệ Tứ Quốc Tế –, ban hành chính sách cải cách ruộng đất, mở chiến dịch Tết Mậu Thân 1968 tổng tấn công miền Nam với những thảm cảnh tàn phá chết chóc trong đó có 3000 thường dân gồm cả các nhà văn hóa, từ thiện ngoại quốc bị giết hoặc chôn sống trong mồ tập thể ở Huế .... Brocheux cũng không bày tỏ một ý nghĩ gì về tiếng than oán cất lên liên tục nhiều năm qua của người dân Việt Nam và những hành động quyết liệt xa lánh cái chế độ mà Hồ Chí Minh đã dựng lên trên đất nước Việt Nam bằng xương máu của hàng triệu người Việt Nam thuộc nhiều thế hệ... Khuôn bó cái nhìn trong giới hạn những tài liệu sách vở với định kiến nghi ngờ các tiếng nói chống đối nên trước mắt Brocheux, Hồ Chí Minh vẫn hiện ra như thần tượng của người dân Việt Nam. Dường như việc Hồ Chí Minh là con người tham vọng đến mức giả dối, tàn ác vẫn là điều khó hiểu và vì thế là điều khó tin đối với không ít người cầm bút Tây Phương. Cho nên, tuy không xác quyết Hồ Chí Minh là người quốc gia yêu nước nhất như Jean Lacouture, không xác quyết Hồ Chí Minh là người đấu tranh mạnh mẽ cho những người cùng khổ trên thế giới như Duiker, nhưng Brocheux vẫn hết sức dè dặt trong nhận định về con người Hồ Chí Minh. Thái độ dè dặt này thể hiện ngay trong việc Brocheux trưng dẫn tài liệu về một giai đoạn hoạt động của Hồ Chí Minh từ cuốn sách mà Hồ Chí Minh tự viết về mình dưới bút hiệu Trần Zân Tiên và cuốn sách của sử gia Cộng Sản Việt Nam là đại tá Hồng Hà, Bác Hồ trên đất nước Lê-Nin. Đó là giai đoạn Hồ Chí Minh sống tại Quảng Đông năm 1925 mà Brocheux ghi lại giống như tài liệu của Hồng Hà. Trong trường hợp này, sự giả dối và đóng kịch không còn do người khác kể vì hiện hình bằng chính việc làm của Hồ Chí Minh mà Brocheux đã gạt qua do có thể coi như lời nói không đáng tin, cụ thể là nói dối. Tuy vậy, Brocheux không hề nêu chỉ một dấu hỏi về sự được tôn sùng của Hồ Chí Minh trong dân chúng Việt Nam. Dầu sao thì đặt bên cạnh Duiker hoặc nhiều tác giả khác, Brocheux đã thận trọng và phân tích sự việc tương đối khách quan hơn, đặc biệt về xu hướng lý tưởng của Hồ Chí Minh. Với Brocheux, màu sắc quốc gia yêu nước của Hồ Chí Minh có vẻ nhòa nhạt hơn trong khi niềm tin của Hồ Chí Minh đặt vào chủ nghĩa Cộng Sản hiện ra khá đậm đà, nhất là qua những đoạn trích từ tác phẩm Vừa đi đường vừa kể chuyện với lời quả quyết chủ nghĩa cộng sản toàn thắng là thực tại như mặt trời lúc nào cũng mọc ở hướng Đông. Hiện nay, giá trị của lời quả quyết kia là điều không còn ai cần bàn tới, nhưng chẳng lẽ cũng không cần nhắc tới thực tế này, khi đánh giá về con người và sự nghiệp của kẻ đã nỗ lực chạy theo ảo tưởng bằng không biết bao nhiêu xương máu và đau khổ của người dân? Tóm lại, hình ảnh nhân vật Hồ Chí Minh qua tác phẩm của Brocheux tuy bớt nhiều nét tô vẽ thiên lệch, nhưng chưa vượt khỏi mức hạn chế đó. Lý do chủ yếu có lẽ như Brocheux đã nêu ra, thời gian chưa đủ dài cho các xúc động thời thế lắng xuống để những người làm công việc chép sử có đủ tỉnh táo phá vỡ tình trạng đan xen chồng chéo giữa huyền thoại với chính sử, và vì thế, sự thực vẫn chìm khuất trong khói mù gian trá. Như vậy, dù đã có thêm tác phẩm của Brocheux, người đọc vẫn phải tiếp tục hy vọng vào thời gian để chờ tới một ngày nào đó trong tương lai, nếu muốn được nhìn rõ bộ mặt thực của nhân vật Hồ Chí Minh. CHÚ THÍCH CHƯƠNG 03 _____________________________ (01) Tác phẩm này phát hành năm 2000, nhưng không đề tháng còn cuốn của Brocheux ghi rõ ra vào tháng 5-2000. (02) Tác giả giữ nguyên chữ “Z” theo lối viết của Hồ Chí Minh thay cho chữ “D” trong tiếng Việt. (03) Những mẩu chuyện về đời ... - bản Pháp văn, tr. 149 (04) Những mẩu chuyện về đời … - bản Việt văn, tr. 165-166 (05) Sách viết xong đầu năm 1948, ít nhất phải khởi sự từ 1947. (06) Ho, D. Halberstam, Nxb Random House, NY, 1971, tr. 16. (07)-(09)-(10) SĐD tr. 90, 75, 59 (08 ) Vừa đi đường vừa kể chuyện – bản Việt văn, tr. 97
Re: HỒ CHÍ MINH - Nhận Định Tổng HợpChương 04* DAVID HALBERSTAM và Ho Nhà báo David Halberstam sinh năm 1934, từng nổi tiếng về các tác phẩm viết về chiến tranh Việt Nam như The Making of a Quagmire và The Best and the Brightest. Năm 1964, lúc làm phóng viên cho tờ Times, Halberstam được tặng giải Pulitzer về báo chí. Năm 1971 nhà xuất bản Random House, New York phát hành cuốn tiểu sử Hồ Chí Minh của Halberstam với cái tựa vẻn vẹn có hai mẫu tự Ho dưới bức chân dung Hồ Chí Minh đầy vẻ khắc khổ. Cuốn sách mỏng 120 trang thu gọn trong 6 chương được tái bản năm 1987. Halberstam dựng lại cuộc đời Hồ Chí Minh dựa phần lớn vào tài liệu trích từ tác phẩm của Jean Lacouture là một trong 10 cuốn mà tác giả tham khảo. Ngoài ra, tác giả cũng trích thêm tài liệu của một số chuyên viên nghiên cứu về Việt Nam như Paul Mus, Bernard Fall, Joseph Buttinger, Robert Shaplen... Halberstam dành trọn chương đầu nói về bối cảnh xã hội Việt Nam lúc Hồ Chí Minh ra đời, một xã hội bất công do thực dân Pháp tạo nên, với những đặc quyền đặc lợi dành ưu tiên cho người da trắng và giáo hội Công Giáo. Halberstam viết: "Hầu hết những địa vị ưu thế có đặc quyền đặc lợi đều nằm trong tay người công giáo... Người Tây phương coi người công giáo Việt Nam như là người tốt, có học thức hơn, được rèn luyện kỹ hơn, văn minh hơn, có thể trở thành mẫu mực cho xứ sở trong tương lai. Trái lại, những người Việt Nam khác có vẻ hèn kém; về phần họ, những người này càng ngày càng trở nên chua chát đắng cay, không thể nào nổi lên trong chính xứ sở của mình”. Nhận định bao quát hóa đầy tính chủ quan này thường đến rất dễ dàng với không ít người làm công việc phân tích thực tế và do đó người đọc có thể gặp ở nhiều tác phẩm khác. Chẳng hạn trong tác phẩm Hồ Chí Minh, con người và huyền thoại của Chính Đạo, người đọc cũng bắt gặp những nhận định tương tự chiếm gần một phần tư tổng số trang của cuốn sách chỉ trích những nhân vật tiêu biểu của tập thể tín hữu công giáo thời ấy như Paulus Hùynh Tịnh Của, Petrus Trương Vĩnh Ký, Ngô Đình Khả, Ngô Đình Khôi, Nguyễn Hữu Bài, Ngô Đình Diệm vv... Mở đầu chương 2, Halberstam giới thiệu Hồ Chí Minh “là khuôn mặt phi thường của thời đại – một phần là Gandhi, một phần là Lênin, tất cả là Việt Nam. Có lẽ, hơn bất cứ nhân vật nào trong thế kỷ, ông Hồ là hiện thân cuộc cách mạng của dân tộc ông đối với dân tộc ông và cả đối với thế giới.” (1) Sau đó tác giả đã để trong ngoặc đơn, nêu nhận xét rằng ngay sau trận Điện Biên Phủ, nhân dân bất bình với Đảng,nhưng vẫn thận trọng không trách cứ Hồ Chí Minh. "Cộng sản trách nhiệm về những điều xấu; bác Hồ về những điều tốt.” Cũng ở chương này, tác giả ghi lại lời Hồ Chí Minh tâm sự với nhà báo Mỹ Harold Isaacs: "Tôi cô đơn lắm, chẳng có gia đình, chẳng có gì... Đã có lần tôi có vợ đấy…” Tác giả tiếp tục bày tỏ sự ngưỡng mộ phẩm hạnh của Hồ Chí Minh bằng nhận định Hồ Chí Minh là người không mắc bệnh sùng bái cá nhân như phần lớn các lãnh tụ khác. "Tito, Stalin, Khrushchev, Mao... hết thẩy đều có tật sùng bái cá nhân. Nhưng Hồ thì không…” (2) Chương 3 nói về việc Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Cộng Sản, tác giả trích thuật một số đoạn trong một bài viết của Hồ Chí Minh, Con đường dẫn tôitới chủ nghĩa Lênin(3):"Một đồng chí trao cho tôi đọc Luận cương về chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa thực dân của Lênin được công bố trên tờ Nhân Đạo (Humanité)…Tôi quá đỗi vui mừng. Dù chỉ ngồi một mình trong phòng, tôi cũng la lớn lên như nói trước đám đông: "Hỡi các bậc tuẫn tiết, hỡi đồng bào! Đây rồi, điều mà chúng ta cần, đây là con đường giải phóng chúng ta!…Chủ nghĩa Lênin không những là cẩm nang, địa bàn dành cho chúng ta, những người cách mạng và nhân dân; nó cũng là mặt trời rực sáng soi đường dẫn lối tới thắng lợi cuối cùng, tới xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa. (4) Cho rằng Hồ Chí Minh thực sự có thanh thế sau khi bỏ phiếu tán thành Đệ Tam Quốc Tế của Lênin và trở nên đảng viên sáng lập đảng Cộng Sản Pháp, Halberstam trích dẫn lời của Bernard Fall khẳng định cuộc đời Hồ Chí Minh đã thay đổi hẳn từ đó. Tất nhiên, bước đầu tiên trên đoạn đường mới này của Hồ Chí Minh là việc rời Pháp sang Nga năm 1923. Về sự việc này, Halberstam ghi theo lời kể của Trần Dân Tiên rằng Hồ Chí Minh tới Moscow sau khi Lênin đã chết và không nêu ý kiến về những chi tiết trái ngược ghi trong các tài liệu khác. Đề cập tới thời kỳ Hồ Chí Minh hoạt động tại Hoa Nam, Halberstam dựa khá nhiều vào tài liệu của Jean Lacouture và tán đồng hầu hết ý kiến của tác giả này về các giai đoạn đấu tranh theo sách lược Cộng Sản mà Hồ Chí Minh đã thực hiện qua hành động cụ thể là xâm nhập các tổ chức đấu tranh yêu nước của người Việt Nam tại đây (5) để lũng đoạn và chuyển hóa thành tổ chức cộng sản. Halberstam trích dẫn nhận định của Lacouture nhấn mạnh tới hai bước đi giai đoạn trong sách lược của Quốc Tế Cộng Sản, theo đó giai đoạn đầu đặt nặng mục tiêu cách mạng dân tộc kêu gọi những thành phần ý thức nhất trong mọi giai cấp với dự kiến thiết lập một chế độ dân chủ tư sản và giai đoạn hai nhắm mục tiêu dẫn tới xã hội chủ nghĩa chỉ thực hiện sau khi đã chuyển hóa các điều kiện kinh tế và xã hội, là việc có thể phải mấy thập niên mới đạt được. (6) Khác biệt giữa hai tác giả là Lacouture ghi nhận, qua sự việc này, thâm ý cùng sự tuân thủ tuyệt đối của Hồ Chí Minh đối với sách lược giai đoạn do Quốc Tế Cộng Sản hoạch định, trong khi Halberstam hết lời tán tụng tài trí của Hồ Chí Minh. Theo đà tán tụng đó, Halberstam không nhắc đến chỉ thị của Quốc Tế Cộng Sản khi nói về việc thống nhất 3 đảng và liên đoàn Cộng Sản thành Đông Dương Cộng Sản Đảng ngày 3-2-1930 tại khán đài sân vận động Hồng Kông, coi như đây là sáng kiến độc lập của Hồ Chí Minh. (7) Một điểm khác biệt nổi bất khác so với những tác giả muốn dập xóa nhiều tin tức bất lợi để tạo hình ảnh Hồ Chí Minh phù hợp sự ngưỡng mộ của mình là Halberstam đã xác nhận việc Hồ Chí Minh báo cho mật thám Pháp bắt Phan Bội Châu để lãnh 150 ngàn bạc Đông Dương tiền thưởng. (8 ) Halberstam nêu ra bốn lý do để biện bạch việc làm trên là hành vi thể hiện tài trí hơn người của Hồ Chí Minh trong đấu tranh cách mạng: – Thứ nhất, Hồ Chí Minh thấy rõ cụ Phan đã già nua, lạc hậu, không còn là người của cách mạng nữa. – Thứ hai, cụ Phan dù bị bắt cũng chắc chắn giữ được mạng sống vì uy tín quốc tế của cụ sẽ khiến người Pháp không dám đem cụ ra xử tử. – Thứ ba, báo cho mật thám Pháp bắt cụ Phan, Hồ Chí Minh và các đồng chí sẽ nhận được một món tiền lớn vốn rất cần cho việc điều hành đại sự. – Thứ tư, loại được cụ Phan khỏi sân khấu chính trị, Hồ Chí Minh và các đồng chí sẽ nhanh chóng thu nhận – pick up – được rất nhiều thanh niên nhiệt huyết lưu vong đang tập trung xung quanh cụ Phan lúc đó. (9) Mức tài trí này còn được chứng tỏ thêm bằng sự an toàn của Hồ Chí Minh khi hàng trăm ngàn người bị sát hại trong cuộc thanh trừng đẫm máu vào thời gian Staline tiêu diệt phe cánh Trotsky và cũng là thời gian Hồ Chí Minh từ Hoa Nam trở về sống tại Nga. Halberstam trích dẫn ý kiến của Bernard Fall coi việc Hồ Chí Minh thoát nạn là điều lạ và giải thích vì "Hồ trung thành vô điều kiện với Stalin và Stalin biết rõ điều ấy.” (10) Hồ Chí Minh không những sống sót qua cuộc thanh trừng của Staline mà còn được tin cậy để nhận nhiều công tác quan trọng tại Trung Hoa và Đông Nam Á. Năm 1938, Hồ Chí Minh về Hoa Nam làm việc và nghiên cứu học hỏi thêm, rồi mùa đông 1940 cùng với Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp về lập khu giải phóng ở Pac Bó thuộc tỉnh Cao Bằng, đó là lần đầu tiên Hồ bí mật về nước sau 30 năm xa quê hương. (11) Chương 4 ghi lại hoạt động của Hồ Chí Minh trong việc thành lập phong trào yêu nước, nhưng Halberstam đã dành những dòng đầu nói về việc Hồ Chí Minh đặt tên một ngọn núi là núi Karl Marx và một dòng suối là suối Lênin. Năm 1942, Hồ Chí Minh bí mật qua Trung Hoa để tìm cách liên hệ với chính phủ Tưởng Giới Thạch. Tuy cải trang như một nhà báo Trung Hoa làm việc ở Việt Nam, Hồ Chí Minh vẫn bị bắt ngay sau khi vừa qua biên giới. Dịp này, Phạm Văn Đồng báo cáo về là Hồ đã chết! Theo Võ Nguyên Giáp sở dĩ có sự lầm lẫn chỉ vì Phạm Văn Đồng hiểu lầm hai tiếng Trung Hoa, đọc gần giống nhau nhưng nghĩa trái ngược. (Thoát rồi thành ra Chết rồi:“Chu liu! Chu liu! – Xuất liễu! Xuất liễu (very fit) thành ra Su liu! Su liu! – Tử liễu! Tử liễu! (already dead)”. Hồ bị giam 13 tháng. Về sau Trung Hoa Quốc Dân Đảng muốn dùng lực lượng Việt Minh để lấy tin tức và hậu thuẫn nên thả Hồ Chí Minh và còn tặng 100 ngàn đồng để chi dụng. Với phương tiện cùng kinh nghiệm tình báo và phản tình báo học được từ Liên Xô, Hồ Chí Minh lại quay về nước. (12) Chương 5, nói về cuộc kháng chiến chống Pháp và trận Điện Biên Phủ. Hồ Chí Minh về Hà Nội ngày 25-8-1945, sáu ngày sau cách mạng tháng 8. Ngày 30-8-45, thành phần chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được loan báo. Có nhà báo trực tiếp hỏi Hồ Chí Minh có phải Nguyễn Ái Quốc không, Hồ Chí Minh chỉ lửng lơ trả lời mình là người cách mạng đã đấu tranh để giải phóng dân tộc Việt Nam. Halberstam cho rằng như vậy có nghĩa là cái tên chẳng quan trọng gì đối với Hồ Chí Minh. Tất nhiên khi xác quyết như vậy, Halberstam không đề cập đến sự chống đối Cộng Sản của nhiều đoàn thể chính trị Việt Nam yêu nước, không nói đến thái độ e dè của đại đa số dân chúng trước danh từ Cộng Sản và nhất là, không nhắc lại nỗi kinh hoàng của một số người trước những cuộc bạo động của phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh hồi đầu thập niên 30 với khẩu hiệu "Trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” để có thể thấy lúc đó Hồ Chí Minh dù có muốn cũng không dám công khai xác nhận trước dư luận rằng mình chính là Nguyễn Ái Quốc. Dù vậy, Hồ Chí Minh vẫn không tránh được một khó khăn vào dịp ký kết với Pháp bản thỏa ước 6-3-1946. Dư luận chung đều thấy nội dung thỏa ước dành quá nhiều ưu tiên cho người Pháp trong khi đặt nhẹ quyền lợi của Việt Nam. Halberstam ghi nhận là dư luận đả kích Hồ Chí Minh đã nhượng bộ Pháp quá đáng, thậm chí còn có người cáo buộc Hồ Chí Minh là gián điệp cho Pháp, một kẻ phản quốc. (13) Hồ Chí Minh bắt buộc phải giải thích và đã khóc khi lên tiếng trước công chúng: "Tôi, Hồ Chí Minh, đã luôn luôn lãnh đạo đồng bào đi theo con đường dẫn tới tự do; tôi đã dùng cả cuộc đời tôi tranh đấu cho tổ quốc được độc lập. Đồng bào biết tôi thà chết chứ không thể phản bội tổ quốc. Tôi thề tôi đã không phản bội đồng bào”. (14) Theo Halberstam, lời lẽ và cách giải thích của Hồ Chí Minh đã được nhân dân hoan hỉ chấp nhận bản thỏa ước! (15) Trấn an được dư luận, Hồ Chí Minh qua Pháp theo dõi hội nghị Fontainebleau. Đây là thời gian tại Việt Nam, Võ Nguyên Giáp, ở cương vị bộ trưởng quốc phòng thay thế Phan Anh, đã dùng "kỹ thuật tổ chức cứng rắn tuyệt hảo để âm thầm quét sạch các phần tử quốc gia đối địch”. (16) Sau đó, Võ Nguyên Giáp đưa quân số Việt Minh lên 100 ngàn, riêng tại miền Bắc, Việt Minh đã có 75 ngàn chống với 15 ngàn quân Pháp. Do đó ngày 18-12-1946 Việt Minh có thể khai chiến và dành thắng lợi vào tháng 5-1954. Trước mắt David Halberstam, mọi thủ đoạn mà Hồ Chí Minh và Cộng Sản thi thố để thu phục nhân tâm đồng thời quét sạch các phần tử đối địch gồm hầu hết là người yêu nước đều biểu hiện mức tài trí đáng khâm phục và không thể chê trách, dù đó là những trò xảo trá, dã man kể cả là tội ác đối với dân tộc. Sự ngưỡng mộ mà Halberstam dành cho Hồ Chí Minh tiếp tục được bày tỏ qua những trang dành nói về cuộc chiến mà Halberstam gọi là cuộc chiến tranh cách mạng, trong đó địch của Pháp ở khắp mọi nơi, còn về phía Việt Minh thì rừng là bạn, đêm tối là bạn, một thôn nữ cũng có thể là mật báo viên của Việt Minh, sẵn sàng chỉ cho biết quân Pháp di chuyển đi đâu, quân số bao nhiêu. Trong chiến tranh cách mạng, Việt Minh lấy ít thắng nhiều, nhanh chóng tập trung, nhanh chóng rút lui. Đánh vào lúc xuất kỳ bất ý, làm cho đối phương bó buộc phải bám sát lấy đất. Đất trở nên bãi sình lầy, càng ngày càng lún sâu. Và sau này, Mỹ cũng đã sa lầy như Pháp. Về thất bại của Pháp ở Điện Biên Phủ, theo Halberstam, do Pháp không hiểu địch, lầm tưởng Việt Minh không có đại bác, hoặc giả có đại bác cũng không biết xử dụng. Vì vậy, Pháp định lấy cái thung lũng lòng chảo ở Điện Biên Phủ làm mồi nhử Việt Minh đem quân đến để tiêu diệt. Nhưng ngay khi trận chiến xảy ra ngày 13-3-1954, viên chỉ huy trưởng pháo binh Pháp đã tự tử vì biết mình lầm. Điện Biên thất thủ 56 ngày sau. Sau hiệp định Genève 1954, Hồ Chí Minh về Hà Nội trên chiếc xe Dodge 4/6, chiến lợi phẩm lấy được của quân đội Pháp, ăn mặc như một nông dân và Halberstam ca ngợi Hồ Chí Minh là anh hùng số một, anh hùng duy nhất của Việt Nam. (17) Chương 6 cũng là chương cuối được dành nói về thất bại của Mỹ và trích lời tiên tri của Bernard Fall: “Mỹ đang đi vào vết chân của Pháp...– The Americans… were walking in the same footsteps” (as the French) – dù cựu ngoại trưởng Foster Dulles từng kiêu hãnh nói Mỹ không có tham vọng thực dân như Pháp. Halberstam cho rằng Mỹ đã lầm khi chọn (?) Ngô Đình Diệm (a bad choice) vì Ngô Đình Diệm có ít cơ sở chính trị lại thừa hưởng một xã hội chia rẽ đến tuyệt vọng, đồng thời, chê trách chính quyền Ngô Đình Diệm và Mỹ cản trở cuộc tổng tuyển cử dự trù tổ chức vào năm 1956. Theo Halberstam, chính sách cải cách điền địa của ông Diệm đem số ruộng đất mà Việt Minh lấy của người giầu chia cho dân nghèo trước kia để hoàn trả các địa chủ là một chính sách nửa vời, làm mất lòng người dân nông thôn. Khác với Jean Lacouture, Halberstam nhìn nhận năm 1959 Hà Nội gửi quân xâm nhập miền Nam và cuộc chiến tranh Đông Dương thứ II đã bắt đầu từ đó. "Hầu hết các nhà quan sát đều tin rằng quyết định khai chiến được làm ở Hà Nội và mọi đường đi nước bước, chiến lược đều được hoạch định ở Hà Nội.” Tất nhiên Halberstam tin là phần thắng sẽ nghiêng về miền Bắc như Bernard Fall từng tiên đoán và giải thích thêm về lý do đưa đến kết quả này là miền Bắc làm cách mạng được nông dân ủng hộ còn miền Nam quan cách, dùng toàn người của Pháp; tướng lãnh thì từ hạ sĩ của Pháp mà lên, cho nên phải thua. (18 ) Kết thúc cuốn sách, Halberstam ghi Hồ Chí Minh chết ngày 3-9-69 và ca tụng Hồ Chí Minh “là nhà ái quốc vĩ đại nhất Việt Nam ở thế kỷ 20 – He was the greatest patriot of his people in this century”. Điểm nổi bật qua tác phẩm Ho là quan điểm nghiêng hẳn về một phía của tác giả, chính xác là quan điểm tán trợ phía Cộng Sản. Halberstam đã đồng hóa chủ nghĩa Cộng Sản với tinh thần cách mạng yêu nước và biến tinh thần này thành nền tảng cho mọi chủ trương hành động của Hồ Chí Minh và những người Cộng Sản. Dưới ánh hào quang của tinh thần yêu nước, mọi sự việc thuộc về phía Cộng Sản đều hiện ra rực rỡ trong khi phía đối nghịch luôn bị đẩy chìm vào bóng tối. Có thể nói không sợ sai lạc bao nhiêu là Halberstam đã trở thành tín đồ cuồng nhiệt của cái Đạo có tên là Hồ Chí Minh và Cộng Sản Việt Nam. Cho nên, ngay cả việc bán một người yêu nước được người khắp năm châu kính phục như Phan Bội Châu cho mật thám Pháp, việc tàn sát những người yêu nước khác chính kiến, việc phát động chiến tranh để đẩy dân chúng cả hai miền Nam Bắc vào tóc tang máu lửa suốt hai mươi năm ... đều là những hành vi tài trí đáng ca ngợi. Dù sao, trên căn bản này, Halberstam đã xác định những sự việc trên thực sự có xẩy ra chứ không tìm cách chối bỏ như một số tác giả khác tuy ngưỡng mộ Hồ Chí Minh nhưng chưa đạt tới độ tôn thờ của một tín đồ sùng đạo như Halberstam. CHÚ THÍCH CHƯƠNG 04 _______________________________ (01) - (02) - (04) SĐD tr. 12, 20, 39. (03) Theo Bernard Fall, bài này đăng trên tạp chí Xô-viết "Những vấn đề Đông Phương” tháng 4-1960. (05) Xâm nhập, lũng đoạn tổ chức Tâm Tâm Xã của các đồ đệ Phan Bội Châu để sau đó biến thành tổ chức Việt Nam Thanh Niên Cách Mệnh Đồng Chí Hội. (06) SĐD tr.46, nguyên văn: The first (stage) was basically national, appealing to the most conscientious elements in every class with a view to establish a bourgeois-democratic regime; the second led to socialism only after a transformation of economic and social conditions that might take several decades… (07)-(09)-(10)-(11)-(12) SĐD tr. 52, 45, 58, 61, 68. (08 ) Từ Thực Dân Đến Cộng Sản - Hoàng Văn Chí, nói 100,000đ. Xin xem chương chót phần I, về HVC. (13) SĐD tr. 86, nguyên văn:Hồ was accused of being a spy, a French agent, a betrayer. (14) SĐD tr. 87, nguyên văn: I, Hồ Chí Minh have alwaysled you along the path to freedom; I have spent my whole life fighting for our country's indepen-dence. You know I would rather die than betray the nation. I swear, I have not betrayed you. (15)-(16) SĐD tr. 87, 91, nguyên văn: using his tough, brilliant organizational techniques to quietly wipe out some rival nationalists. (17) SĐD tr. 104, nguyên văn: He was a national hero now, the only one; the country was his. (18 ) SĐD tr. 113, nguyên văn: By 1964 the ARVN had been defeated by an indigenous peasant army. It was just as Ho had predicted.
Re: HỒ CHÍ MINH - Nhận Định Tổng Hợp* Chương 05* BERNARD FALL và Ho Chi Minh on Revolution Trước khi tử nạn ngày 21-2-1967 ở vùng sình lầy Dãy Phố Buồn Thiu (*) phía bắc Huế, Bernard Fall đã hoàn tất việc chuẩn bị ấn hành 2 tác phẩm được giao cho nhà xuất bản Frederick A. Praeger. Đó là cuốn The Two Viet Nams sẽ được tái bản và cuốn Ho Chi Minh on Revolution vừa viết xong. Bernard Fall, sinh năm 1926, ký giả Pháp, nhưng cha mẹ đều là người Áo gốc Do Thái và là nạn nhân của chế độ Quốc Xã Đức. Năm 1942, khi mới 16 tuổi, Bernard Fall đã gia nhập hàng ngũ kháng chiến Pháp chống Đức, sau đó tốt nghiệp đại học Paris và Munich rồi hoạt động trong lãnh vực báo chí. Ông là một nhà báo đã có mặt trên nhiều chiến trường Việt Nam trước và sau 1954, từng gặp gỡ nhiều nhân vật lãnh đạo cả hai miền Nam Bắc và có một tác phẩm viết rất sớm về Việt Nam là cuốn La Rue Sans Joie. Tác phẩm Ho Chi Minh on Revolution có lẽ là tác phẩm cuối cùng của Bernard Fall. Trong tác phẩm này, tác giả đã chọn lựa và giới thiệu phần lớn những văn kiện do Hồ Chí Minh viết từ 1920 đến 1966 dựa theo tài liệu từ bộ Hồ Chí Minh tuyển tập bằng ngoại ngữ, bố cục thành 5 phần, kèm theo lời bàn và chú thích ở cuối trang như sau: – 01: Đi tìm sứ mạng 1920-1924. – 02: Con Đường Quốc Tế Cộng Sản 1924-1930 – 03: Chiến tranh cách mạng và giải phóng1930-54 – 04: Tái thiết và những sai lầm 1954-1960 – 05: Tái chiến 1960-1966 Mở đầu sách, tác giả giới thiệu một nhận định chung về các chính trị gia nổi tiếng thế giới và chia thành 2 loại. Loại thứ nhất gồm những người vừa có khả năng lãnh đạo vừa có văn tài như Julius Caesar, Napoleon I, Winston Churchill và Charles De Gaulle... Loại thứ hai gồm những người chỉ nổi bật nhờ khả năng tổ chức, lãnh đạo như Louis XIV, Tito, Lyndon B. Johnson... Hồ Chí Minh được xếp vào loại thứ hai này với lời diễn giải “ông ta quá bận bịu về hoạt động, tổ chức, bày mưu tính kế để cuối cùng thành cha già dân tộc – He has been too much the doer, the organizer, the conspirator and, finally, the father of his own country…” Trước khi viết Ho Chi Minh on Revolution, Bernard Fall đã hai lần kể tiểu sử Hồ Chí Minh trong các tác phẩm Le Viet Minh và The Two Viet Nams. (1) Trong Ho Chi Minh on Revolution, Bernard Fall chỉ lập lại những tài liệu và cái nhìn đã có về đối tượng. Bernard Fall cho biết Hồ Chí Minh từng theo học trường Quốc Học, Huế – "Quốc Học Huế được lập theo sáng kiến của ông Ngô Đình Khả, thân phụ ông Diệm... Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Ngô Đình Diệm đều là học sinh trường nổi tiếng này. Theo Phạm Văn Đồng thì ông Hồ bỏ Quốc học vào năm 1910 mà không có bằng cấp gì.” Cũng như Jean Larteguy cho rằng cha của Hồ Chí Minh bị bãi chức không vì lý do nghiền rượu và biển thủ công quỹ, Bernard Fall nói cụ Nguyễn Sinh Huy là người yêu nước nhất định không chịu học tiếng Pháp nên người Pháp ghét bỏ mà sa thải. Còn anh chị em của Hồ Chí Minh đều là những nông dân cần cù với đồng ruộng, hoàn toàn xa lánh mọi hoạt động chính trị. Khi viết tác phẩm Ho Chi Minh on Revolution, vào năm 1967, Bernard Fall đã nghe được nhiều nguồn tin nói Hồ Chí Minh có vợ, nhưng tác giả ghi lại là cả Hồ Chí Minh lẫn những người xung quanh đều phủ nhận hoàn toàn các tin đồn này. Đánh giá cao con người Hồ Chí Minh, Bernard Fall nhắc việc giáo sư P. J. Honey của đại học đường Luân Đôn đã ví Hồ Chí Minh với thánh Gandhi của Ấn Độ, khi trả lời một cuộc phỏng vấn truyền hình năm 1966. Tác giả cũng ghi lại chi tiết Hồ Chí Minh được biết tới như một kẻ giả dối, kẻ có tài đóng kịch – Ho is known to be a talented comedian – và cho là điều này không đúng, vì "nếu đúng vậy thì Hồ đã thành công trong việc diễn chỉ một màn kịch duy nhất cho những khán giả gồm từ các người Cộng Sản Tây phương đến các nông dân Việt Nam và cả những sĩ quan mật vụ OSS của Mỹ suốt trong 40 năm mà không một lần bị lộ tẩy.” Tác giả không tin Hồ Chí Minh có khả năng diễn xuất cao như thế nên tỏ ra đồng ý với Honey. Nhận định của Honey năm 1966 được Bernard Fall lập lại năm 1967 và 4 năm sau, đến phiên nhà báo Mỹ Halberstam đưa vào bức chân dung Hồ Chí Minh của mình:“Hồ Chí Minh một phần là Gandhi, một phần là Lenin, tất cả là Việt Nam” Thực ra, người đọc khó nắm vững cái phần Gandhi, cái phần Lenin, kể cả cái toàn thể Việt Nam mà Halberstam nói bao gồm trong con người Hồ Chí Minh cụ thể là những gì. Riêng Bernard Fall nói rõ là Hồ Chí Minh có sự thẳng thắn bộc trực của Gandhi và cho rằng đặc tính này đã giúp Hồ Chí Minh bảo toàn được uy tín khi chế độ Hà Nội phạm những lỗi lầm khủng khiếp trong chính sách cải cách ruộng đất. Tính thẳng thắn bộc trực đó biểu hiện bằng những giọt nước mắt không cần che đậy và những lời thành khẩn nhận lỗi trước công chúng nên dễ dàng được chấp nhận và tin phục. Về dư luận chê trách Hồ Chí Minh tán đồng việc chia đôi đất nước ở vĩ tuyến 17 vào tháng 7-1954, Bernard Fall cho rằng thà chấp nhận như thế còn hơn phải đương đầu với một cuộc thế chiến. Tác giả so sánh hai nhân vật lãnh đạo hai miền Nam - Bắc Việt Nam thời đó với nhận định sau: “Cả 2 ông Ngô và Hồ đều độc thân và đều được coi như cha già của dân tộc. Nhưng chỉ có ông Diệm nhận chức ấy, vì đó là truyền thống quan lại. Còn ông Hồ thì từ chối không nhận. Chỉ nhận làm Bác mà thôi”. (2) Bernard Fall không cho biết dựa vào cơ sở nào để xác định như vậy nhưng người đọc có thể thấy rõ tác giả hoàn toàn không biết việc Hồ Chí Minh đã dùng bút hiệu Trần Dân Tiên viết sách nhắc nhở dân chúng suy tôn mình là cha già dân tộc và có lẽ cũng không có dịp hiểu rõ về người đang lãnh đạo miền Nam lúc đó. Phác họa tư tưởng Hồ Chí Minh, Bernard Fall nhận định Hồ Chí Minh có xu hướng quốc gia hơn xu hướng cộng sản và kết luận:“Nói như một số học giả Tây phương gần đây rằng Hồ để lòng trung thành với chủ nghĩa Cộng Sản trên lòng yêu tổ quốc là không đúng. Thực ra nói ngược lại mới đúng” Với Bernard Fall, cuộc gặp gỡ Hồ Chí Minh vào tháng 7-1962 cũng lưu lại một mối thiện cảm đặc biệt. Bernard Fall đã kể lại trong Ho Chi Minh on Revolution cuộc gặp gỡ đó gần giống như Jean Lacouture từng kể về cuộc gặp gỡ với Hồ Chí Minh năm 1961. Cũng như Jean Lacouture, Bernard Fall được Phạm Văn Đồng tiếp kiến tại Phủ Chủ Tịch và khi đang trò chuyện cùng Phạm Văn Đồng thì Hồ Chí Minh nhẹ nhàng bước vào, tham gia câu chuyện rất tự nhiên cởi mở. “Hồ ngồi xuống sát bên tôi với nét mặt chợt lóe rạng vẻ đùa cợt, vỗ lên đùi tôi: Vậy ra ông là chàng thanh niên đã quan tâm nhiều đến mọi chi tiết nhỏ nhặt về cuộc đời của tôi đó à? – Hồ sits down next to me, a humourous gleam on his face, and slaps me on the thigh: So you are the young man who is so much interested in all the small details about my life.” Tác giả chú thích thêm rằng mình từng viết một cuốn sách mang tựa đề Le Viet Minh, trong đó có phần tóm lược tiểu sử Hồ Chí Minh và đoán là Hồ Chí Minh đã biết về cuốn sách đó. Con người luôn được bao phủ bằng huyền thoại đã xuất hiện thật giản dị thân mật và tiếp nối câu chuyện bằng lời lẽ cởi mở như đang tâm sự với một người bạn để nói lên sự mất lòng dân của chính phủ Sài Gòn, sự đánh giá sai của Mỹ về ý chí của nhân dân Việt Nam sẵn sàng chiến đấu lâu dài, dù là hàng chục năm, để bảo vệ đất nước. Rồi Hồ Chí Minh nhấn mạnh: "Chúng tôi sẽ vận động dư luận thế giới ủng hộ chúng tôi chống lại cuộc chiến tranh phi nghĩa chống nhân dân miền Nam Việt Nam.” Khi Bernard Fall hỏi trong trường hợp có cơ hội, ông có chịu thương lượng để đi đến một giải pháp nào đó không, Hồ Chí Minh đáp là sẵn sàng nhưng chỉ với những người sẵn sàng ngồi cùng bàn với chúng tôi để trò chuyện – causer. Hồ Chí Minh còn tỏ ra hết sức thoải mái cho biết về hình thức hiệp thương giữa hai miền trong tương lai, miền Nam muốn hình thức nào cũng được, kể cả hình thức giao thương như giữa hai nước Đức, mặc dù sự hiện diện của bức tường Bá Linh. Toàn bộ lập trường của miền Bắc về cuộc chiến đang diễn ra tại miền Nam và các vấn đề liên quan tới Miên, Lào qua lời tuyên bố của Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng đã được Bernard Fall ghi âm để phổ biến trên báo và sau đó, ghi lại trong tác phẩm. Câu hỏi chính của Bernard Fall đặt ra cho Phạm Văn Đồng: "Xin cho biết những điều kiện để Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa có thể chấp nhận một cuộc dàn xếp xung đột hiện có ở miền Nam?” Sau đây là một số lời Phạm Văn Đồng tuyên bố: “Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã nói khá đầy đủ về vấn đề này, nhưng tôi xin nhấn mạnh mấy điểm sau: Nguồn gốc và nguyên nhân trực tiếp của tình hình cực kỳ nguy hiểm ở miền Nam là sự can thiệp vũ trang của Mỹ và chế độ độc tài của Ngô Đình Diệm do Mỹ dựng nên để dùng làm công cụ cho việc can thiệp.” Tiếp theo, Phạm Văn Đồng xác định những điểm chủ yếu trong lập trường của miền Bắc đối với tình hình lúc đó: – Thứ nhất: Ủng hộ lập trường của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam. – Thứ hai: Tin tưởng với sự ủng hộ của nhân dân thế giới, miền Nam sẽ ra khỏi hoàn cảnh nguy hiểm. – Thứ ba: Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tôn trọng hiệp định Genève, tiếp tục hợp tác với Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến và hy vọng sẽ thành công. Về bản hiệp định Genève 1962 trung lập hóa Ai Lao vừa được ký kết, Phạm Văn Đồng cho biết: "Chúng tôi sẽ tôn trọng hiệp định về Ai Lao và sẽ bằng mọi giá giữ bang giao tốt đẹp với Cam Bốt." Phần phỏng vấn Hồ Chí Minh gồm 11 câu đối đáp, trong đó có 3 câu chủ yếu liên quan đến cuộc chiến miền Nam. – Hỏi thứ 1: Đây là cuộc chiến ý thức hệ, hay chiến tranh dành độc lập? · Đáp: Mỹ phá hoại hiệp định Genève, lại làm cuộc chiến tranh xâm lược, buộc nhân dân VN phải đứng lên bảo vệ tổ quốc đến cùng. – Hỏi thứ 4: Chủ Tịch có cần chí nguyện quân của phía đồng minh (ý nói Liên Xô và Trung Cộng) và các quốc gia thân hữu không, hay chỉ cần vật liệu hợp thời đại? · Đáp: Muốn đánh Mỹ mạnh như thế, phải dựa vào sức mình đồng thời vận động để có viện trợ đắc lực nhất của quốc tế. Hàng chục vạn chí nguyện quân các nước Xã Hội Chủ Nghĩa và những nước khác đã tuyên bố sẵn sàng cùng chúng tôi đánh Mỹ. Cám ơn họ. Khi cần sẽ kêu gọi họ giúp. – Hỏi thứ 5: Có thể hy vọng ở những hoạt động của nhóm thiểu số được gọi là tự do ở Mỹ không? · Đáp: Chúng tôi cho rằng phong trào ở Mỹ chống cuộc chiến tranh bẩn thỉu này là một hỗ trợ tích cực cho chính nghĩa của chúng tôi. Mặc dầu bị chính quyền bách hại, phong trào này vẫn không ngừng phát triển. Ghi lại những lời tuyên bố trên, tác giả không lưu tâm đối chiếu với thực tế để đưa ra một nhận định nào mà chỉ làm công việc lưu trữ chứng liệu về hành vi và lời lẽ trong một thời điểm trên con đường theo đuổi cách mạng của Hồ Chí Minh. Nhưng cũng có thể hiểu đây là một lối mô tả nhân vật mà Bernard Fall đã lựa chọn theo cách đưa các sự việc và ngôn ngữ của nhân vật ra nói thay cho nhận định của mình. Lựa chọn này không hề gây ngạc nhiên vì Bernard Fall từng khẳng định Hồ Chí Minh là người đặt lòng trung thành với tổ quốc trên lòng yêu chủ nghĩa Cộng Sản. Vì thế, Bernard Fall tỏ ra không hề ngờ vực tính chân xác của những lời nói và có vẻ không hề băn khoăn cân nhắc thêm về thực chất của mọi biến cố đang diễn ra, cụ thể là cuộc chiến tại miền Nam lúc đó. Cũng vì thế, trong số 85 văn kiện của Hồ Chí Minh được đề cập, Bernard Fall đánh giá chỉ có Bản án chế độ thực dân Pháp in ở Paris năm 1926 là quan trọng, mặc dù cho biết chỉ gồm mấy tập mỏng lên án chế độ thực dân một cách thô thiển, ngây ngô. (3) Để củng cố cho nhận định Hồ Chí Minh luôn nhắm mục tiêu đấu tranh chống thực dân, giải phóng dân tộc, Bernard Fall viện dẫn thêm dư luận chung tại Á Châu như sau: "…Tại phần lớn Á châu và theo phần đông các nhà chuyên môn về Đông Nam Á thì Hồ được coi như có tinh thần quốc gia trước, rồi mới là người Cộng Sản – hầu như mãi cho đến trận Điện Biên Phủ." Trong tương quan giữa Hồ Chí Minh với Cộng Sản, Bernard Fall ghi lại vài điểm mốc thời gian và một số văn kiện. "Hồ đã bỏ phiếu xin gia nhập Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản, chống lại các đảng viên xã hội và trở thành một trong những người sáng lập đảng Cộng Sản Pháp, ngày 30-12-1920.” (4) Về việc Hồ Chí Minh rời Pháp đi Nga lần đầu, Bernard Fall đưa ra một số chi tiết khác hẳn với các tác giả khác bằng sự khẳng định Hồ Chí Minh tới Nga dự đại hội kỳ 4 của Đệ Tam Quốc Tế từ tháng 11 đến tháng 12-1922 và như vậy từng được gặp Lênin – như báo Nhân Dân xuất bản tại Hà Nội đã loan trong số ra ngày 12-5-1961. Theo Bernard Fall, Hồ Chí Minh cũng được đảng Cộng Sản Pháp phái sang Nga tham dự Đại Hội I của tổ chức Quốc Tế Nông Dân khai diễn ngày 10-10-1923 tại điện Kremlin và đã có dịp gặp nhiều lãnh tụ Đệ Tam Quốc Tế như Radek, Zinoviev, Bukharin, Dimitrov và Trotsky ... Đây là lần thứ nhì, Hồ Chí Minh tới Nga và có mặt tại Mạc Tư Khoa ngày 23-1-1924, hai ngày sau khi Lenin qua đời. Một bài viết của Hồ Chí Minh đăng trên tờ Le Paria – Kẻ Cùng Khổ, số tháng 7-1924, sáu tháng sau khi Lênin chết, nhan đề Lênin và các dân tộc Phương Đông, được Bernard Fall trích lại, trong đó Hồ Chí Minh gọi Lênin là thủ trưởng, là lãnh tụ, là thầy của các dân tộc phương Đông, ca tụng Lênin là thiên tài, có đời tư trong sáng, coi rẻ sự sang trọng, một lòng yêu thích lao động để đi tới kết luận: "Tóm lại chính sự vĩ đại, sự mỹ miều của bậc thầy này đã ảnh hưởng to tát trên các dân tộc Á châu và thu hút trái tim họ đến với Người”. (5) Bernard Fall cũng trích một bài viết khác với tựa đề Lênin và Đông Phương đăng trên tờ Le Sifflet ở Paris ngày 21-1-1926. Trong bài này, Hồ Chí Minh xỉ vả nhóm Đệ Nhị Quốc Tế Cộng Sản là tổ chức tiểu tư sản gồm những tên xã hội chủ nghĩa gian xảo, làm lợi khí cho bọn bóc lột và lừa đảo, đồng thời cổ võ "Lênin đã mở ra một kỷ nguyên mới, thực sự cách mạng, tại nhiều thuộc địa khác nhau.” (6) Bản báo cáo của Hồ Chí Minh gửi Đệ Tam Quốc Tế tháng 7-1939 ghi rõ 8 điểm liên quan đến đường lối của đảng Cộng Sản Đông Dương cũng được trích trong Hồ Chí Minh on Revolution trong đó có điểm 4 mạt sát những người Cộng Sản Đệ Tứ Quốc Tế, chủ trương "phải tiêu diệt chúng về chính trị” và điểm 5 chỉ thị cho Mặt Trận Dân Chủ Đông Dương giữ liên lạc chặt chẽ với Mặt Trận Bình Dân Pháp, "vì mặt trận này cũng tranh đấu cho tự do dân chủ và có thể giúp đỡ chúng ta” (7) Những tài liệu trích dẫn về tương quan giữa Hồ Chí Minh với Đệ Tam Quốc Tế chỉ chủ yếu nhắm đề cao tinh thần quốc gia của Hồ Chí Minh qua sự kiện Hồ Chí Minh chấp nhận gia nhập Đệ Tam Quốc Tế do tin tưởng tuyệt đối ở chủ trương bênh vực các dân tộc bị trị của Lenin. Bernard Fall nhìn nhận rằng bước ngoặt quan trọng nhất trong đời đấu tranh của Hồ Chí Minh là việc gia nhập Đệ Tam Quốc Tế, nhưng xác định Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục là người yêu nước đấu tranh chống thực dân chứ không phải đệ tử trung thành của chủ nghĩa quốc tế vô sản. Dù vậy, những hoạt động của Hồ Chí Minh trong thời gian ở Trung Hoa và Đông Nam Á được Bernard Fall ghi lại đều cho thấy luôn diễn ra trong vòng chi phối của Đệ Tam Quốc Tế. Theo Bernard Fall, Đệ Tam Quốc Tế chỉ định Hồ Chí Minh đứng ra tổ chức Liên Đoàn Các Dân Tộc Bị Áp Bức Châu Á là một tổ chức bình phong của Đảng Cộng Sản Nam Hải dự kiến sau này gồm các quốc gia Triều Tiên, Nam Dương, Mã Lai, Ấn Độ, Trung Hoa và Việt Nam. Đảng quốc tế dự kiến này sẽ chi phối mọi hoạt động của các cán bộ cộng sản trong vùng Đông Nam Á cho đến thời gian chín muồi để thành lập các đảng cộng sản tại mỗi nước. (8) Đây là lúc Hồ Chí Minh làm phụ tá và thông dịch cho phái đoàn Borodin cạnh chính phủ Trung Hoa Dân Quốc. Thời gian này, Hồ Chí Minh tận dụng mọi tương quan để mở rộng vây cánh, trong đó có việc chọn các thanh niên Việt Nam nhiệt huyết gửi vào trường Võ Bị Hoàng Phố của Tưởng Giới Thạch. Đích thân Hồ Chí Minh cũng đứng ra huấn luyện và mỗi tam cá nguyệt đào tạo từ 20 tới 30 người trở thành những chuyên viên khuấy động (agitators). Trong khoảng thời gian giữa tháng 1-1925 và tháng 7-1927 (lúc Tưởng Giới Thạch chia tay với cộng sản), Hồ Chí Minh đã đào tạo được 200 cán bộ để đưa về hoạt động tại Đông Dương. "Đối với những kẻ chứng tỏ không đáng tin cậy, hoặc sau khi tốt nghiệp trường Hoàng Phố mà từ chối không theo cộng sản, Hồ dùng một liều thuốc rất công hiệu: sai đảng viên cộng sản tiết lộ danh tánh họ cho tình báo Pháp. Sở an ninh trong nước sẽ tóm cổ họ ngay khi về tới.” (9) Ngày 28-8-1942 đến đầu tháng 10-1943, Hồ Chí Minh bị tướng Trương Phát Khuê của Trung Hoa Dân Quốc bắt giữ với lý do vừa là cộng sản, vừa là gián điệp cho Pháp. Về sau, chính Trương Phát Khuê nói không có chuyện bắt giữ mà chỉ phái Hồ Chí Minh đi Côn Minh thụ huấn theo yêu cầu của giới quân sự Mỹ tại đó. Bernard Fall quả quyết việc Hồ Chí Minh bị bắt rồi được Mỹ can thiệp để tướng Trương Phát Khuê tha là có thật. Bernard Fall kể tiếp là sau khi được tha, Hồ Chí Minh đồng ý hợp tác với tướng Trương Phát Khuê lúc đó là Tư Lệnh Đệ Tứ Chiến Khu Trung Hoa Dân Quốc và là người chủ trương hợp nhất các đoàn thể đấu tranh Việt Nam lưu vong thành một tổ chức cách mạng Việt Nam thống nhất trong đó có sự hiện diện của tổ chức Việt Minh, mặc dù cộng sản bị cấm hoạt động. (10) Hội nghị thống nhất được triệu tập ở Liễu Châu từ ngày 4 đến ngày 16-10-1943 nhưng không dẫn tới kết quả do đại diện các phe phái liên tục kình chống nhau. Vừa ra khỏi nhà giam, Hồ Chí Minh đã chứng tỏ cho Trương Phát Khuê thấy rằng chỉ có mình mới thực hiện được việc thống nhất các phe thành một lực lượng hữu hiệu và 6 tháng sau đó, tại hội nghị thống nhất được triệu tập từ ngày 25 đến ngày 28-4-1944, Trương Phát Khuê đòi các phe phải dành cho Hồ Chí Minh một ghế bộ trưởng trong "Chính phủ lâm thời Cộng Hòa Việt Nam". (11) Biên Niên Tiểu Sử ghi tháng 8-1944, Hồ Chí Minh được Trương Phát Khuê đồng ý cho rời Liễu Châu trở về Việt Nam. Trương Phát Khuê còn đồng ý cho Hồ Chí Minh chọn đem theo 18 thanh niên tin cậy cùng đi. Trước khi lên đường, Hồ Chí Minh cam kết với Trương Phát Khuê: “... Điều mà tôi quan tâm hiện nay là độc lập và tự do cho nước Việt Nam chứ không phải là chủ nghĩa cộng sản. Tôi có một lời bảo đảm đặc biệt đối với ông rằng: Chủ nghĩa cộng sản sẽ chưa được thực hiện ở Việt Nam trong vòng 50 năm tới”. (12) Bernard Fall không nhắc tới tài liệu này mà tiếp tục diễn tả tài trí của Hồ Chí Minh. Theo Bernard Fall, tuy được sự tin cậy của các tướng lãnh Trung Hoa Dân Quốc, Hồ Chí Minh đã lượng đoán được chính những người này cùng với Pháp sẽ là đối thủ khi Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt. Hồ Chí Minh cũng rất thực tế để thấy là trong tình thế tương lai đó, nếu nhận được sự giúp đỡ của Mỹ sẽ tốt hơn rất nhiều so với sự giúp đỡ từ phía Liên Xô và Trung Cộng. Vì vậy, mùa đông 1944, Hồ Chí Minh đã tìm cách bắt liên lạc với đại tá Helliwell, là người cầm đầu OSS (tiền thân của CIA) hoạt động ở Hoa Nam, đang có trụ sở tại Côn Minh. Helliwell bảo OSS chỉ cho Hồ Chí Minh 6 khẩu súng ngắn 38 ly nhưng thực ra các nhóm du kích Việt Minh đã được tăng cường bởi nhiều toán OSS và súng đạn của Mỹ. Theo Bernard Fall, đây là lý do chủ yếu khiến Hồ Chí Minh cố ngăn chặn mọi sự phô trương bộ mặt cộng sản và từ bỏ luôn cái tên Nguyễn Ái Quốc để nhận tên Hồ Chí Minh từ 1944. Nhiều người Mỹ có quan hệ lúc đó tỏ ra tin tưởng Hồ Chí Minh từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, nhất là trước sự trạng Hồ Chí Minh đã được Trung Hoa Dân Quốc hợp tác và hỗ trợ. Sau ngày 2-9-1945, những người Mỹ này gần như luôn có mặt thân thiện bên cạnh Hồ Chí Minh hoặc các đồng chí của ông ta, trong khi cờ Mỹ tung bay tại nhiều nơi ở Hà Nội. Dư luận dân chúng trong nước và ngay cả một số người Nhật, người Pháp có mặt tại Hà Nội đều nghĩ Việt Minh đã được Mỹ ủng hộ. Về sau người ta được biết rằng vì tin Hồ Chí Minh được Mỹ ủng hộ nên vua Bảo Đại và những người quốc gia ủng hộ ông mới êm thắm nhường quyền lãnh đạo đất nước cho Việt Minh. (13) Và, Bernard Fall ghi lại cách hành động sau đó của Hồ Chí Minh:"Khi thấy rõ Mỹ không còn ủng hộ nữa, Hồ đã quay ngược 180 độ, bắt đầu kêu gọi hợp tác với Pháp. Chính trong thời kỳ này mà Hồ hành động như người Việt Nam trước, như người cộng sản sau. Ông ta quyết tâm làm cho cái Nhà Nước Việt Nam (Dân Chủ Cộng Hòa) sống sót bằng bất cứ giá nào. Nhưng, tuần trăng mật có tính cách thân Tây phương kéo dài chẳng bao lâu. Khi Hồ thương thuyết với Pháp ở Fontainebleau thì đồng chí của ông là Võ Nguyên Giáp, Trần Văn Giầu, Nguyễn Bình, Phạm Văn Bạch thanh toán "các kẻ nội thù của chế độ" gồm các nhà lãnh đạo các giáo phái, các quan lại (Ngô Đình Khôi), các nhà trí thức (như Phạm Qùynh), nhóm Trotskit, và các người yêu nước chống cộng.” (14) Đặc biệt về tình hình miền Nam, Bernard Fall viết: "Tại Nam Kỳ, cả hai phía, giáo phái và Việt Minh đã giải quyết thanh toán những phần tử cảm tình của đối phương như sau: Trói lại từng chùm rồi thả xuống sông Mê Kông cho chết trôi ra biển. Thế mà huyền thoại về bác Hồ tốt bụng vẫn tồn tại cho đến ngày nay”. (15) Tác giả đưa ra một nhận xét hết sức tinh tế: "Chiến tranh Đông Dương bùng nổ đã đơn giản hóa những khó khăn về chính trị của ông Hồ. Không cần phải đối xử với phe đối lập bằng bàn tay bọc nhung nữa: Cứ việc gọi họ một cách đơn giản là Việt gian." (16) Bernard Fall không che giấu cảm giác ghê rợn khi nhắc các thủ đoạn thanh trừng, chém giết nhưng có vẻ chấp nhận là hành vi không thể tránh để đấu tranh giải phóng đất nước. Trong khuôn khổ cái giá bắt buộc phải trả đó của người dân Việt Nam để có độc lập và tự do, Bernard Fall còn trưng dẫn thêm lời kêu gọi sự đóng góp của tất cả mọi người cho chiến thuật “tiêu thổ kháng chiến” do Hồ Chí Minh đưa ra: "Để chiến đấu, chúng ta phải tiến hành phá hoại. Nếu ta không làm, quân Pháp sẽ làm. Nếu nhà chúng ta vững chắc đủ để dùng làm căn cứ, chúng sẽ vận dụng chiến xa và tầu chiến tấn công chúng ta, và chúng sẽ đốt phá tài sản của chúng ta. Đó là lý do ta phải phá hoại trước khi Pháp có thể chiếm dụng tài sản của chúng ta (…) Ngoài mặt trận chiến binh hy sinh tính mạng cho tổ quốc; sao ta lại tiếc một đoạn đưòng, một cửa cống hay một căn nhà mà quân Pháp có thể dùng để tấn công tổ quốc?" (17) Tất cả những hành động đó trước mắt Bernard Fall đều chỉ phản ảnh tài năng lãnh đạo của Hồ Chí Minh để đưa đất nước vượt khỏi những thử thách và chiến thắng các kẻ thù. Tác giả kể thêm rằng giữa năm 1956, tinh thần cán binh từ Nam tập kết ra Bắc xuống thấp và họ bất mãn về những bất công mà chế độ dành cho họ. Hồ Chí Minh đã thuyết phục họ bằng "lá thư gửi các cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc” đề ngày 19-6-1956. Trong thư, Hồ Chí Minh hứa cho sửa chữa những sai sót khiến đời sống vật chất và tinh thần của họ mất ổn định đồng thời kêu gọi họ nhịn nhục, thông cảm. Hồ Chí Minh cũng khích lệ họ bằng lời khuyên “nên tin tưởng ở sự lãnh đạo và sự hùng mạnh càng ngày càng tăng của Liên Xô”. Ngoài ra, Hồ Chí Minh khẳng định cuộc chiến chống chế độ Ngô Đình Diệm là cuộc chiến có chính nghĩa và miền Bắc càng ngày càng củng cố sẽ là căn cứ vững mạnh cho cuộc chiến đó. Cũng trong phạm vi đối đầu với những khó khăn, Bernard Fall đã nhắc đến chính sách Cải Cách Ruộng Đất tại miền Bắc 1953-1955. Trong lá thư đề ngày18-8-1956 gửi nông dân và cán bộ, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh "sự hoàn thành thắng lợi của Cải Cách Ruộng Đất tại miền Bắc… là một chiến thắng vĩ đại (18)…” Sau lời nhấn mạnh đó, Hồ Chí Minh lên tiếng nhìn nhận đã có những sai lầm đáng tiếc và hứa cho sửa sai. Cuối cùng ông kêu gọi nhân dân đoàn kết quanh đảng và chính phủ để làm cho thôn quê hạnh phúc và phồn thịnh hơn… Tài năng và sự khéo léo của Hồ Chí Minh còn biểu hiện rõ rệt trước tình trạng chia rẽ trầm trọng giữa Liên xô và Trung Cộng tại đại hội lần thứ 22 đảng Cộng Sản Liên Xô từ tháng 10 đến tháng 11 năm 1961. Bernard Fall thuật lại khi phái đoàn Trung Cộng giận dữ rời hội trường bỏ về nước, Hồ Chí Minh đang ngồi sát bên Khrushchev. Ông không dám ngồi nán lại, nhưng cũng không dám bỏ về nước, nên rút lui êm rồi "rong chơi ở các vùng thuộc châu Âu của Nga, bắt tay mọi người, ôm hôn các em bé giống như đang đi vận động tái cử tại vùng Minks hay Kovno.” Khả năng chinh phục và lôi cuốn của Hồ Chí Minh được Bernard Fall nhấn mạnh trong mấy lời tuyên bố do Hồ Chí Minh đưa ra khi những cuộc oanh kích của không lực Mỹ dồn dập trút xuống miền Bắc từ ngày 7-2-1965 tác động vào tinh thần mọi người. Nhiều cấp lãnh đạo chế độ miền Bắc đã hoang mang chao đảo đẩy nội bộ Đảng vào tình trạng giao động khủng hoảng. Cuộc khủng hoảng này khiến ngay cả chuyên gia phân tích tình hình nổi tiếng P. J. Honey của Anh Quốc đã nghĩ rằng Hồ Chí Minh đang bị nhóm đàn em thân Bắc Kinh lấn áp. Nhưng đúng lúc đó Hồ Chí Minh lên tiếng và dựng lại tinh thần toàn đảng toàn dân chỉ bằng mấy lời giản dị nhưng mạnh mẽ: “Chúng ta mạnh vì chúng ta có chính nghĩa, vì nhân dân từ Bắc tới Nam đoàn kết… chúng ta sẽ chiến thắng” Cuối cùng Hồ Chí Minh đã chiến thắng. Nhưng chiến thắng của Hồ Chí Minh mang lại gì cho đất nước Việt Nam? Điều này Bernard Fall không lưu tâm có lẽ vì cho rằng nằm ngoài chủ đề tác phẩm. Khi viết Ho Chi Minh on Revolution, Bernard Fall tỏ ra chỉ tập trung vào ý hướng giới thiệu một con người hành động cố vượt qua những tình thế khó khăn để đạt mục tiêu cuối cùng. Chính vì thế, Bernard Fall đặt nhẹ ngay cả khía cạnh đạo đức của đối tượng để chỉ nêu bật hiệu quả của những hành động và cuối cùng là sự thành công trong mục tiêu đấu tranh giải phóng đất nước. Bernard Fall khác với các tác giả khác ở điểm nhìn nhận Hồ Chí Minh và các đồng chí đã thẳng tay loại trừ các phần tử khác chính kiến ngay từ thời còn hoạt động ở Hoa Nam bằng cách đẩy những người này vào tay mật vụ Pháp và gán cho họ hai tiếng Việt Gian để tàn sát trong cuộc chiến sau đó... Trong khi cho rằng Hồ Chí Minh nặng lòng yêu tổ quốc hơn chủ nghĩa Cộng Sản, Bernard Fall cũng nhìn nhận Hồ Chí Minh rất gắn bó với Đệ Tam Quốc Tế và cuộc đời của ông đã đổi hướng do sự gắn bó này. Thắc mắc khó tránh với người đọc là Bernard Fall tìm ra căn bản nào cho sự kết hợp lòng yêu nước với chủ nghĩa cộng sản, khi chính ông đã có quá nhiều thời gian để hiểu rõ thực tế xã hội tại các quốc gia do cộng sản thống trị từ Nga qua Đông Âu tới Trung Quốc và nhất là chính ông đã nhìn nhận những sai lầm trong Cải Cách Ruộng Đất ở miền Bắc Việt Nam là khủng khiếp? Hơn nữa, bản thân Bernard Fall và gia đình từng là nạn nhân của một danh nhân mà Hồ Chí Minh có vẻ dập khuôn theo là Hitler. Có bao giờ Bernard Fall tự hỏi hết thẩy người dân sống trên nước Đức trước năm 1945 đều mong mỏi Hitler sống mãi để phục vụ nước Đức không, dù đời sống của người dân Đức đạt mức rất cao so với cảnh lầm than của người dân dưới chế độ Hồ Chí Minh? Bernard Fall có thể hợp lý khi chỉ diễn tả tài trí của một con người mà theo ông xứng đáng là một danh nhân, một kẻ phi thường. Nhưng chắc chắn Bernard Fall không bao giờ cho phép mình phát biểu rằng một danh nhân như Hitler là người yêu nước, thương dân, một người đã dành trọn đời cho lý tưởng phụng sự người khác. Với Ho Chi Minh on Revolution, Bernard Fall đã làm cái điều mà ông không thể làm với Hitler. CHÚ THÍCH CHƯƠNG 05 ____________________________ (*) Tên một vùng đất phía Bắc Trung Phần Việt Nam do Bernard Fall đặt và cũng là tên một tác phẩm của ông, cuốn La Rue Sans Joie, được chuyển sang Việt Ngữ thuở đó. (01) Xin xem Ngô Đình Diệm, Lời Khen Tiếng Chê của Minh Võ , ấn bản 2002, tr. 87- 98. (02)-(03) SĐD tr. 82, 86 (04) HCM, BNTS – T. I, tr. 105 ghi HCM bỏ phiếu tán thành tham gia Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản lúc 22 giờ ngày 29-12-1920 tại Đại hội Tours tức Đại Hội lần thứ 18 của Đảng Xã Hội Pháp. (05)-(06)-(07)-(08)-(09) SĐD tr. 40, 55, 140, 93, 93-94 (10) Tác giả lầm, Việt Minh lúc ấy chưa phải là mặt trận Việt Minh do cộng sản chi phối hồi 1945, mà là Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội, do cụ Hồ Học Lãm, người cách mạng quốc gia làm chủ tịch, và chính Hồ Học Lãm là người đầu tiên gọi tắt là Việt Minh, trong đó cũng có một vài phần tử cộng sản tham dự – Theo Hoàng Văn Hoan, hồi ký Giọt Nước Trong Biển Cả. (11) Theo HCM, BNTS – T. 2, khoảng cuối tháng 10-1943, sau khi ra khỏi nhà giam, Hồ Chí Minh vẫn bị đặt dưới sự giám sát của Đệ Tứ Chiến Khu. Nhưng, chính tướng Tư Lệnh Trương Phát Khuê đã yêu cầu Nguyễn Hải Thần thu nhận và dành cho Hồ Chí Minh vai trò Phó Chủ Tịch của tổ chức Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội do Nguyễn Hải Thần đang làm Chủ Tịch. (12) HCM, BNTS – T. 2, tr. 205. (13) SĐD tr. 101. (14) Thực ra Phạm Quỳnh và Ngô Đình Khôi đã bị giết trong dịp cách mạng tháng 8-1945 (15)-(16)-(17) SĐD tr. 101, 101, 179 (18) Nguyên văn: This is a great victory.
Re: HỒ CHÍ MINH - Nhận Định Tổng Hợp* Chương 06* JEAN SAINTENY và Face à Ho Chi Minh Sau khi dự đám tang Hồ Chí Minh với tư cách nhà ngoại giao Tây phương duy nhất, Jean Sainteny bắt đầu viết cuốn Face à Ho Chi Minh (Éditions Seghers, Paris, 1970). Cuốn sách được Herma Briffault dịch ra Anh ngữ với tựa đề Hồ Chí Minh and his Việt Nam, a personal memoir được Cowles Book Company, Inc. xuất bản tại Chicago, Hoa Kỳ năm 1972. Phần trích dẫn ở đây là theo bản Anh ngữ. Tưởng cũng nên nhắc là trước đó 5 năm, tác giả đã viết một tác phẩm đáng chú ý là Histoire d’une paix manquée – Chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ – Fayard xuất bản 1967. Theo nhà xuất bản, Sainteny là nhà ngoại giao Tây phương biết rõ nhất về Hồ Chí Minh. Ông là người đã gặp Hồ Chí Minh nhiều lần, là người thương thuyết với Hồ Chí Minh ròng rã 6 tháng để đi đến thỏa ước 6-3-1946 mang chữ ký của ông. Khi Hồ Chí Minh tới Pháp theo dõi cuộc thương thuyết Fontainebleau giữa hai phái đoàn Việt Pháp, tác giả cũng là người nhận lệnh của chính phủ Pháp đón tiếp và chu cấp mọi tiện nghi. Sau hiệp định Genève 1954, Sainteny là sứ giả Pháp giao dịch với miền Bắc để tìm cách duy trì một số cơ sở văn hóa, kinh tế tại đây, nhưng không thành công. Sainteny ghi rõ ông không có tham vọng viết sử mà chỉ trình bày một số sự việc do ông biết về Hồ Chí Minh như một chứng nhân để cung cấp tài liệu sống và kinh nghiệm cá nhân cho các nhà chép sử sau này. Ngay trong lời nói đầu, tác giả không che giấu cảm tình của mình qua lời diễn tả đã muốn rơi lệ vào lúc nghiêng mình bên quan tài Hồ Chí Minh. Sainteny không phủ nhận ảnh hưởng của cộng sản đối với Hồ Chí Minh và cho biết ngay khi mới tới Pháp, Hồ Chí Minh đã say mê đọc Marx, kể cả tác phẩm đồ sộ Tư Bản Luận.“Chẳng bao lâu nó đã là cuốn sách gối đầu giường, người bạn ban đêm của ông Hồ. Ông ta hoàn toàn gắn bó với chủ nghĩa cộng sản. Ta có thể nói điều này một cách chắc chắn.” (1) Nhưng tác giả viết:“Hồ cũng như Mao đã trở thành cộng sản ngay từ năm 1917. Tuy nhiên đối với ông ta, cộng sản ban đầu phần lớn chỉ là phương tiện để đạt mục đích dành độc lập cho tổ quốc. Không biết bao lần người ta đã hỏi tôi “ông Hồ quốc gia hay cộng sản?” Câu trả lời của tôi luôn vẫn thế: “Cả hai”. (2) Tuy nhiên, tác giả biết rõ nhiệm vụ mà Quốc Tế Cộng Sản đã trao cho ông Hồ Chí Minh và khẳng định: “Tại Quảng Đông, ông Hồ coi phòng báo chí của tòa lãnh sự Liên Xô, nhưng sứ mạng chính của ông là chuẩn bị tuyên truyền và hành động cho cộng sản ở Đông Dương”. (3) Ông còn ghi năm 1928, Hồ Chí Minh tới Thái Lan phụ trách 2 loại công tác trên của cộng sản ở vùng Đông Nam Á, Mã Lai Á, Thái Lan, Miến Điện và dĩ nhiên Đông Dương. Trang 28, tác giả cho biết Hồ Chí Minh đã được giao phụ trách huấn luyện cho quân Quốc Dân Đảng Trung Quốc về du kích chiến vào năm 1938, khi mà hai phe Quốc - Cộng Trung Hoa lại một lần nữa tạm liên hiệp để chống Nhật xâm lăng. Sainteny trưng dẫn và đồng ý với phát biểu của “ đồng chí Ducroux”: “Tôi không phủ nhận ông ta là người theo chủ nghĩa quốc tế (cộng sản) chân thành và là nhà cách mạng đích thực, nhưng Việt Nam luôn chiếm vị trí hàng đầu đối với ông –...I don’t deny that he was a sincere internationalist and a true revolutionary, but Việt Nam always took first place for him”. (4) Tác giả dành riêng 15 trang của chương 6 nói về những cuộc đàm thoại giữa mình với Hồ Chí Minh với lời mở đầu: “Ngay khi vừa gặp lần đầu ngày 15-10-1945, tôi cũng như tướng Allessandri và Léon Pignon, đều tin chắc Hồ Chí Minh là một nhân vật thượng thặng.” Qua hàng loạt hội kiến sau đó kéo dài 6 tháng, tác giả đã có một nhận định tổng quát về con người, về lập trường cũng như chiến lược sách lược đấu tranh bằng thương thuyết của Hồ Chí Minh. Đại khái trước tình hình khó khăn do sự hiện diện của quân đội Trung Hoa Dân Quốc tại miền Bắc vĩ tuyến 16 mang theo về các đảng quốc gia gồm Đại Việt, Việt Cách và nhất là Việt Quốc, Hồ Chí Minh đã phải khéo léo tranh thủ cảm tình của người Pháp – Đã rõ là ông Hồ không thể loại bỏ mối đe dọa từ phía Trung Hoa mà không có sự ủng hộ của Pháp. Về điểm này quyền lợi của hai bên Việt Pháp gặp nhau. (5) Tác giả cho biết không hề ảo tưởng là Hồ Chí Minh nhượng bộ nhiều, vì ông ta có những điểm cần phải bảo vệ một cách quyết liệt và viết tiếp:“Khi những mưu tính của ông ta hay đồng chí của ông ta, hoặc chính bản thân ông ta bị đe dọa, ông ta sẽ không do dự dùng những cách tàn bạo. Về phương diện này, ông ta hoàn toàn thuộc về cái thứ châu Á quá nhiều mâu thuẫn, ở đó người ta áp dụng những hình thức tra tấn cực hình tinh vi nhất tiếp theo những nghi thức xã giao rất ư ngọt ngào” (6). Liền sau đó, Sainteny cho thấy sự uyển chuyển của Hồ Chí Minh khi ứng phó với tình thế khác hẳn thái độ cố chấp cứng ngắc của những người Việt Nam đấu tranh yêu nước lúc đó: “Để đạt mục đích đối với chúng tôi, Hồ Chí Minh đủ sáng suốt để không đòi hỏi quá nhiều như một số đối thủ của ông ta. Trong khi những người này đòi độc lập hoàn toàn và tức khắc như điều kiện tiên quyết để thương thuyết thì Hồ Chí Minh tuyên bố sẵn sàng bằng lòng với sự độc lập tương đối, chấp nhận một thỏa hiệp hòa nhã với nước Pháp để rồi chẳng bao lâu sau nước ông sẽ được độc lập hoàn toàn.” Tác giả tỏ ra tán đồng sự uyển chuyển này và nghĩ rằng Hồ Chí Minh vẫn không quên mục tiêu giành độc lập cho đất nước: “Tại sao chúng ta lại phải nghi ngờ lòng thành thực của ông ta? Ông ta đã chờ 35 năm, và có thể chờ thêm dăm năm nữa có sao. Kiên trì là đức tính của Á Đông mà.” (7) Khi nói về đòi hỏi quá nhiều của những người quốc gia “đối thủ của Hồ Chí Minh”, có lẽ tác giả nhớ lại Nguyễn Tường Tam mà ông gặp qua trung gian một sĩ quan Việt tên Phác, khi mới đến Côn Minh để đảm nhận trọng trách “Phái Bộ 5”. Nguyễn Tường Tam đã cảnh cáo người Pháp về quyết tâm kinh khủng của đồng bào ông là phải thoát ngay ách đô hộ của người Pháp. Còn Hồ Chí Minh sau đó đã gửi cho phái bộ này bức điện văn 5 điểm trong đó có điểm 2 như sau:“Nền độc lập phải được trao trả trong thời hạn 5 năm hay tối đa 10 năm” (8) Chương 10, nói về tôn giáo, Sainteny gần như không mảy may nghi ngờ về việc Hồ Chí Minh đóng kịch khi nói đến Thượng Đế một cách kính cẩn. Trong khi tạm trú ở Biarritz để chờ được đón tiếp chính thức bởi chính phủ mới của Pháp lúc ấy chưa lập xong, Hồ Chí Minh đã đề nghị được đi thăm viếng Lộ Đức (9) và “đã tỏ ra rất cung kính và thích thú khi được Đức Cha Théas đón tiếp tại đây.” (10) Sainteny cũng nhắc lại lá thư riêng của Hồ Chí Minh gửi cho mình ngày 24-2-1947, trong đó Hồ Chí Minh hy vọng Thượng Đế sẽ giúp hai người thành công trong nỗ lực mưu tìm hòa bình. Tác giả viết: “Ông Hồ xin Thượng Đế chứng giám cho là cả hai chúng tôi không ai có trách nhiệm về cuộc chiến đã tàn phá đất nước ông từ ngày 19-12-1946.” Sainteny ghi lại ý nghĩ của mình là Hồ Chí Minh không cần giả vờ nhắc đến Thượng Đế trong dịp này.“Để đánh lừa ai? Chắc chắn không phải tôi. Và, ông ta cũng biết chắc chắn là tôi không công bố lá thư đó.” Sainteny hoàn toàn đúng khi nghĩ Hồ Chí Minh biết chắc chắn sẽ không có việc công bố lá thư và vì thế Hồ Chí Minh sẽ không cần giả vờ để đánh lừa bất kỳ ai. Nhưng khi xác quyết Hồ Chí Minh không nhắm đánh lừa mình – chắc chắn không phải tôi – Sainteny đã chứng tỏ là chủ quan tới mức lầm lạc. Đặt lên bàn cân việc chinh phục lòng tin của một người như Sainteny và chinh phục lòng tin của hàng trăm, thậm chí hàng ngàn người Pháp khác không ở cương vị của Sainteny lúc đó thì vấn đề đã dễ dàng sáng tỏ. Sainteny không lưu tâm so sánh và còn nhắc thêm một câu do Hồ Chí Minh viết trong di chúc về việc ông ta sẽ đi gặp Các Mác và Lênin, để cho rằng Hồ Chí Minh thực sự tin ở đời sau. (!) Thực ra, cảm tình mà Sainteny dành cho Hồ Chí Minh đến mức tin rằng mình không bị gạt hoàn toàn không gây ngạc nhiên khi người ta biết về cung cách giao tiếp của Hồ Chí Minh và biết rõ Sainteny là người có nhiều dịp đặc biệt cùng Hồ Chí Minh gặp gỡ kể từ 1945. Lần cuối Sainteny gặp Hồ Chí Minh là tháng 7-1966. Lần gặp này, Sainteny cho biết, Hồ Chí Minh rất mãn nguyện vì được đọc thư của tướng De Gaulle là người mà dịp qua Pháp 1946, Hồ Chí Minh rất muốn gặp nhưng không được. Sainteny kể lại là Hồ Chí Minh cười thoải mái khi đọc đến câu De Gaulle “giới thiệu” Sainteny. – “Giới thiệu ông với tôi! Đâu có cần. Chúng ta đã biết nhau nhiều mà... Đừng gọi tôi là chủ tịch nữa. Giữa chúng ta mấy tiếng đó thật buồn cười!...” Cung cách tiếp xúc với lời lẽ thân mật đó đủ tạo một ấn tượng tốt với người đối diện và tất nhiên dễ chinh phục sự tin tưởng về các vấn đề được nêu ra. Trong tương quan với Hồ Chí Minh, Sainteny còn được dành một ưu tiên đặc biệt là bất cứ lúc nào cần đều có thể gặp mặt. Sự biệt đãi này khiến Sainteny luôn hãnh diện vì được Hồ Chí Minh coi như bạn. Suốt nhiều năm qua lại Hà Nội, chỉ một lần duy nhất Sainteny không được Hồ Chí Minh đích thân ra đón. Đó là lần Sainteny tới với tư cách đại diện toàn quyền Pháp tại miền Bắc Việt Nam. Lần đó, Sainteny hơi cảm thấy buồn, nhưng về sau được biết là Hồ Chí Minh đang đau nên hoàn toàn an tâm về tình bạn đã có. Với tư cách nhà ngoại giao lão luyện và ở cương vị đặc biệt để nắm vững nhiều biến cố, Sainteny đã đề cập tới nhiều hành vi nham hiểm, tàn ác mà Hồ Chí Minh và các đồng chí theo đuổi đối với kiều dân Pháp tại Việt Nam. Chính Sainteny đã là nạn nhân và bị thương nặng ngay đêm 19-12-1946. (11) Sainteny cũng nắm vững cả việc Hồ Chí Minh mượn tay Pháp tiêu diệt các đảng đối lập. Nhưng tình cảm bạn bè đã dập tắt mọi ý nghĩ ngờ vực chê trách và đôi khi còn thúc đẩy Sainteny bày tỏ sự tán trợ. Trong lần gặp gỡ cuối cùng, hai người đề cập tới cuộc chiến khốc liệt đang diễn ra tại miền Nam và mức độ oanh tạc leo thang của Mỹ tại miền Bắc. Hồ Chí Minh tỏ ra rất tự tin, tâm sự với Sainteny rằng “nước Mỹ có thể xóa sạch thành phố này cũng như nhiều thành phố khác của Việt Nam nhưng không làm chúng tôi lay chuyển đâu. Ông biết đó, chúng tôi đã có kinh nghiệm và ông đã thấy chiến cuộc kết thúc ra sao.” Sainteny cho là Hồ Chí Minh có ý nhắc tới trận Điện Biên Phủ nhưng ông không cảm thấy mỉa mai chua xót và cũng không nghĩ rằng Hồ Chí Minh có ý khoe khoang hay châm chọc. (12) Ý nghĩ không thay đổi của Sainteny là trách cứ các chính phủ Pháp không chịu trao trả độc lập cho Việt Nam, như người Anh đã làm với Ấn Độ năm 1948. Sainteny xác định không có tham vọng làm công việc chép sử nên ông thoải mái phơi trải cảm xúc cá nhân. Với tư cách nhà ngoại giao từng một thời có mặt tại Việt Nam, ông cung cấp khá nhiều tài liệu về những biến cố đã xẩy ra. Riêng về xu hướng tư tưởng của Hồ Chí Minh, ít nhất Sainteny cũng xác định một điều là Hồ Chí Minh say mê chủ nghĩa Cộng Sản, chọn Tư Bản Luận làm sách gối đầu giường và đọc Karl Marx một cách ngấu nghiến. (13) Cảm giác còn lại rõ rệt sau khi đọc tác phẩm của Sainteny là sức mạnh lấn át của tình cảm so với nhận thức hiện ra thật rõ ràng, kể cả với những người thường xuyên phải vận dụng lý trí. CHÚ THÍCH CHƯƠNG 06 _____________________________ (01)-(02)-(03)-(04) SĐD tr. 18, 20, 23, 34 (05) SĐD tr. 55, nguyên văn: It is clear that HCM could not eliminate the Chinese menace without French support. On this point our interests coincided. (06)-(07) SĐD tr. 57. (08) Histoire d’une paix manquée, Fayard, Paris, 1967, tr. 66- 68. (09) Một thánh địa ở Tây Nam nước Pháp, nơi Đức Bà Maria, năm 1858 đã hiện ra với một thiếu nữ quê mùa (sau được Giáo Hội phong thánh là thánh Bernadette) và làm nhiều phép lạ. (10) SĐD tr. 132. (11) Trang cuối cùng tác phẩm Histoire d’une paix manquée (Fayard 1967, tr. 147), Sainteny viết: “20 giờ đúng. Thành phố chìm sâu trong im lặng. Đồng hồ bệnh viện Yersin điểm 8 tiếng trầm chậm. Tôi bảo mấy cộng sự viên: “Hình như chưa phải tối nay đâu. Tôi đi về nhà cái đã.” Tôi vừa vào trong xe thì nghe tiếng nổ bụp, và bỗng cả thành phố chìm trong bóng tối. Nhà máy đèn trung ương vừa phát nổ. Lúc ấy là đúng 20 giờ 04...đêm 19-12-1946, cũng y hệt đêm 9-3-1945 cũng đúng 20 giờ 04, trong cùng một giờ, cùng một hoàn cảnh, dân Việt Nam, những học trò đời đời ngoan ngoãn đã thực hành bài học mà những ông thầy Nhật Bổn đã dậy họ 21 tháng trước đó. Đàng khác, một vài kẻ trong số những ông thầy đó giờ đây cũng ở đâu đó không xa.” Những phát súng đầu tiên như pháo rang xé toang bóng đêm bao trùm thành phố, chôn vùi những cố gắng và hy vọng của chúng ta.” Và hai trang sau là phần viết tiếp của nhà xuất bản đã cho biết về tình trạng của tác giả: “Chiếc xe có gắn đại liên chở Sainteny đã cán mìn cỡ nặng, bắn tung lên, đốn ngả cây cối bên đường và biến mặt tiền của một cửa hiệu thành tro bụi. Nó bốc cháy trong cơn mưa lựu đạn.... Sainteny cố thoát ra được khỏi xe. Các người khác cùng lần lượt ra được. Nhưng kẻ thì hấp hối, đầu tựa vào đầu gối tác giả, người thì toàn thân như bó đuốc, phải chữa trị nhiều tháng trong bệnh viện. Riêng tác giả bị thương nặng ở lưng và hông phải nát bấy. Ông được giải phẫu ngay đêm đó và chỉ ít ngày sau đã cố trở lại nhiệm sở bằng xe cứu thương! .... (12) SĐD tr. 164. (13) Histoire d’une paix manquée tr. 179, nguyên văn: Il dévore Karl Marx.
Re: HỒ CHÍ MINH - Nhận Định Tổng Hợp* Chương 07* TƯỞNG VĨNH KÍNH và Hồ Chí Minh tại Trung Quốc Nguyên tác Hoa ngữ của tác phẩm Hồ Chí Minh tại Trung Quốc chỉ được xuất bản lần đầu tại Đài Bắc năm 1972, nhưng trước đó 5 năm đã xuất hiện bản dịch Anh Ngữ của nữ dịch giả Margaret Chen vào tháng 6-1967. Năm 1999 mới có bản dịch Việt ngữ của Thượng Huyền. Cước chú từng trang cho thấy Tưởng Vĩnh Kính tham khảo rất nhiều tác giả Pháp, Mỹ như Charles B. McLane, Jean Lacouture, Philippe Devillers, Joseph Buttinger, Robert Shaplen, Ellen Hammer, I. Milton Sacks... và nhiều tác giả Việt Nam trong số có Trần Dân Tiên mà lúc đó chưa ai biết là bút hiệu của Hồ Chí Minh. Tác giả cũng nhắc tới các nhân vật thân cận với Hồ Chí Minh như Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Khánh Toàn… Một số nhân vật Việt Nam khác được nhắc nhiều lần như Nghiêm Kế Tổ, Hoàng Văn Chí. Hoàng Văn Chí và Julie How là những người từng có thư từ liên lạc với tác giả. Nhưng tác phẩm của Tưởng Vĩnh Kính dựa phần lớn vào tài liệu của văn khố Trung Hoa Quốc Dân Đảng với những báo cáo của Julie How, Trương Phát Khuê, Tiêu Văn, Hình Sầm Châu, Trịnh Học Giá…Vì phần lớn tài liệu được sử dụng là tài liệu trong văn khố Trung Hoa Quốc Dân Đảng nên tập trung khá nhiều vào thời kỳ hoạt động của Hồ Chí Minh tại Trung Quốc từ 1925 đến 1945. Trong khoảng thời gian này, Hồ Chí Minh lui tới Trung Quốc ít nhất 5 lần và ở lại đây ít nhất 10 năm. Qua 375 trang sách, TưởngVĩnh Kính thuật lại nhiều chi tiết về cuộc đời và hoạt động của Hồ Chí Minh trong những năm sống tại Trung Quốc và xác định Hồ Chí Minh luôn luôn vì chủ nghĩa Quốc Tế Cộng Sản – tức Liên Xô – vì lúc nào cũng làm theo lệnh và báo cáo cho Bộ Phương Đông (1) Đệ Tam Quốc Tế. Theo Tưởng Vĩnh Kính, việc Hồ Chí Minh dành được tình thân và lòng tin của một số giới chức Trung Hoa như Trương Phát Khuê hay bà Tống Khánh Linh, phu nhân của lãnh tụ Tôn Dật Tiên… không do ý hướng đấu tranh phụng sự đường lối cách mạng quốc gia mà do những thủ thuật giao tiếp. Hồ Chí Minh đã khôn khéo ứng phó với từng trường hợp để tìm điều kiện che chở cần thiết cho việc thực hiện mục tiêu chính trị bí mật nhận lãnh từ Đệ Tam Quốc Tế. Đây cũng là cách thức mà Hồ Chí Minh tiếp tục vận dụng vào những thời điểm cần tỏ ra thân Mỹ hay thân Pháp để tạo điểm tựa cho việc giành quyền lãnh đạo và triệt hạ các thành phần đối lập, dù đó là những phần tử yêu nước như các nhà cách mạng thuộc các đảng Việt Cách, Việt Quốc và Đại Việt... Nơi trang 116, Tưởng Vĩnh Kính nêu lên 5 điểm chứng tỏ Hồ hoạt đồng dưới sự điều khiển chặt chẽ và theo đúng kế hoạch của Đệ Tam Quốc Tế. Hai tổ chức mà Hồ Chí Minh thường liên hệ trong những năm 1929-1930 là Phòng Bí Thư Hội Công Chức và Công Nhân Thái Bình Dương (từ 1930-1931 do Viễn Đông Cục quản lý) và Viễn Đông Cục của Đệ Tam Quốc Tế ở Thượng Hải, ban đầu do Pavel Mif về sau do Hilaire Noulens điều hành. Hồ Chí Minh cũng giúp Noulens điều hành Nam Dương Cục từ ngày 3-3-1930 đến tháng 6-1931 bao gồm các nước Nam Dương, Mã Lai, Xiêm. Nhiều tác giả khác đều cho biết Hilaire Noulens là người trực tiếp điều khiển Hồ Chí Minh tại Thượng Hải trong một thời gian. Noulens là người ra chỉ thị cho Hồ Chí Minh và nhận báo cáo của Hồ Chí Minh sau khi hoàn thành công tác. Dựa vào những chứng nhân người Trung Hoa và tài liệu trong văn khố Quốc Dân Đảng, Tưởng Vĩnh Kính cho biết hoạt động chủ yếu của Hồ Chí Minh trong giai đoạn ở Hoa Nam là dựa vào uy tín các nhà ái quốc Việt Nam, kết thân với một số giới chức Trung Hoa để dễ dàng xâm nhập các tổ chức cách mạng Việt Nam tại đây. Hồ Chí Minh không gia nhập với mục đích góp phần đẩy mạnh hoạt động đấu tranh giải phóng đất nước mà trước hết, tạo bình phong che giấu hình tích, và kế đó là đạt các mục tiêu mà Đệ Tam Quốc Tế đang nhắm. Mục tiêu cụ thể trong thời điểm đó của Đệ Tam Quốc Tế là vừa khai thác vừa lũng đoạn phá hoại các tổ chức này để tạo đà phát triển ảnh hưởng cộng sản. Hồ Chí Minh mượn các tổ chức này để trình diễn bộ mặt yêu nước đồng thời lôi cuốn người của các tổ chức này gia nhập hàng ngũ cộng sản, và nếu được, sẽ biến các tổ chức này thành tổ chức cộng sản. Nhận định của Tưởng Vĩnh Kính phù hợp với tiết lộ của Hoàng Văn Hoan, một nhân vật thân cận với Hồ Chí Minh nhiều năm, về giai đoạn Hồ Chí Minh tham gia tổ chức Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội của các nhân vật Hồ Học Lãm, Nguyễn Hải Thần... Theo Hoàng Văn Hoan, Việt Minh vốn là tên gọi tắt của Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội mà Hồ Chí Minh đã tham gia và sau đó biến thành tên gọi của phong trào cộng sản Việt Nam vào năm 1945 mà mọi người đều biết là Mặt Trận Việt Minh. Tưởng Vĩnh Kính xác nhận hai chữ Việt Minh là viết tắt của Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội từng hoạt động từ lâu trước tháng 5-1941 do Hồ Học Lãm lãnh đạo. Về sau, tổ chức này cùng một số tổ chức khác kết hợp thành Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội của nhiều nhân vật như Nguyễn Hải Thần, Trương Bội Công ...“Hồ gia nhập Cách Mạng Đồng Minh Hội, một mặt là do đã ngụy trang thành công, được cá nhân tướng Trương Phát Khuê tín nhiệm, mặt khác là được các phần tử tả khuynh Trung Quốc âm thầm hỗ trợ từ bên trong.” (2) và “Một năm sau, khi Hồ Chí Minh tỏ thái độ "hợp tác" và gia nhập Cách Mệnh Đồng Minh Hội, lúc bấy giờ các đảng phái Việt Nam theo chủ nghĩa dân tộc mới thực sự bị đẩy vào một tình huống "khốn đốn”. (3) Tóm lại, Tưởng Vĩnh Kính đánh giá toàn bộ hoạt động của Hồ Chí Minh suốt thời gian ở Hoa Nam chỉ là xâm nhập để đánh phá các tổ chức cách mạng dân tộc yêu nước, bởi cộng sản theo đuổi việc nắm độc quyền lãnh đạo các lực lượng đấu tranh nên đã coi các tổ chức này là kẻ địch. Tình huống khốn đốn mà Tưởng Vĩnh Kính nhắc tới được khắc họa bằng hai hình ảnh: hoặc bị sang đoạt đổi tên thành tổ chức công cụ ngoại vi của Cộng Sản hoặc lâm cảnh bị kích động chia rẽ rồi tàn lụi. Mục tiêu và ý hướng đó đã được Tưởng Vĩnh Kính nhắc lại qua những ghi nhận về thái độ của Hồ Chí Minh đối với cuộc khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1930: "Ông Hồ rất vui mừng thấy Việt Nam Quốc Dân Đảng thất bại. Điều đó phản ảnh rõ trong ngữ khí của ông ta khi bình luận về cái thu hoạch được của Cộng Sản Việt Nam như sau: "Từ sau cuộc khởi nghĩa đó, giai cấp tư sản (chỉ Việt Nam Quốc Dân Đảng) đã mất tất cả ảnh hưởng trong cuộc vận động giải phóng dân tộc; và giai cấp công nhân cùng quần chúng nông dân lao động được tổ chức lại trong đảng tự do (chỉ Cộng Sản). Đảng trở thành người lãnh đạo duy nhất của cuộc cách mạng chống chủ nghĩa đế quốc.” (4) Đây là thời kỳ hoạt động mà về sau Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam luôn diễn tả sai lạc hoặc xóa bỏ bằng sự khẳng định Mặt Trận Việt Minh được Hồ Chí Minh cho ra đời tại Pác Bó. Các tác giả Cộng Sản Việt Nam sau này, ngoại trừ Hoàng Văn Hoan, đều ghi rằng Mặt Trận Việt Minh thành lập vào tháng 5-1941 theo sáng kiến của Hồ Chí Minh lúc đó còn mang tên Nguyễn Ái Quốc. (5) Trọn chương 4 của tác phẩm được tác giả dành kể về hành động cụ thể của Hồ Chí Minh tại Quảng Châu trong nỗ lực ngụy trang bằng chủ nghĩa dân tộc và cách thức xâm nhập hàng ngũ những người yêu nước Việt Nam cũng như hàng ngũ Trung Hoa Quốc Dân Đảng. Tháng 1-1926, nhân dịp đại hội Trung Hoa Quốc Dân Đảng, Hồ lấy tên Lý Thụy đã gửi thư xin được tới trình bày về tình hình ở Việt Nam. Tưởng Vĩnh Kính cho biết "Hồ đã tiếp xúc với Trung Hoa Quốc Dân Đảng, giống như kế hoạch của Trung Cộng là cố nắm trong tay cuộc vận động chủ nghĩa dân tộc.” Tưởng Vĩnh Kính nhắc tới một số người hoạt động với Hồ Chí Minh đã có nhiều hành vi phản bội cách mạng như Lâm Đức Thụ, Vũ Anh, Lê Tùng Anh, Nguyễn Văn Thiều ... Lâm Đức Thụ được Hồ Chí Minh đưa lên thay Hồ Tùng Mậu trong vai trò lãnh đạo Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội tại Hương Cảng chính là kẻ giao nộp hình ảnh, tin tức hoạt động của nhiều người đấu tranh cho mật thám Pháp – "Thụ là người từng hợp mưu với Hồ Chí Minh bán cụ Phan Bội Châu cho Pháp năm 1925”. (6) Theo Tưởng Vĩnh Kính, người đầu tiên Hồ Chí Minh tìm gặp khi đến Côn Minh là Vũ Anh có bí danh Trịnh Đông Hải vốn cùng với Nguyễn Văn Thiều, Lê Tùng Anh là những kẻ “vẫn giữ liên hệ với lãnh sự quán Pháp một cách âm thầm” đã phản bội Việt Nam Quốc Dân Đảng khiến các nhân vật Trương Nguyên Minh, Vũ Hồng Khanh, Đào Quang Bào bị nhà cầm quyền Quốc Dân Đảng Trung Hoa trục xuất. Tất nhiên việc tranh thủ tình cảm và lòng tin của chính quyền Trung Hoa Dân Quốc là điều Hồ Chí Minh hết sức chú trọng. Vì thế, Hồ Chí Minh đã cùng đồng chí Phùng Chí Kiên mượn danh nghĩa hội Việt Nam Dân Chúng Trợ Hoa Kháng Địch Hậu Viện đưa ra các truyền đơn chống Nhật để được sự bao che của bà Tống Khánh Linh đồng thời chiếm thiện cảm của nhiều giới chức Trung Hoa lúc đó. Nhưng thời gian này, tháng 8-1940, Hồ Chí Minh đã âm thầm phái Trần Văn Hinh đến Diên An ký một mật ước với Trung Cộng hứa sẽ liên hiệp các đảng phái lập mặt trận thống nhất, lấy khẩu hiệu chống thực dân và phong kiến làm chủ điểm đấu tranh và hứa yểm trợ các đảng viên Trung Cộng hoạt động tại Việt Nam. Đổi lại Trung Cộng đồng ý cấp cho Hồ Chí Minh và các đồng chí 50 ngàn quan để chi phí ở Trung Quốc. Tưởng Vĩnh Kính nhận định là trong hành động, Hồ Chí Minh luôn coi đường lối của Mao Trạch Đông là mẫu mực nên vận dụng tối đa tấm bình phong chủ nghĩa dân tộc và trưng dẫn thêm quan điểm mà Hồ Chí Minh đã nêu trong tác phẩm Con Đường Kách Mệnh: "Một là, nhiệm vụ cách mạng không phải vì một thiểu số người nào mà vì quảng đại giai cấp công nhân và quần chúng nông dân, do đó cần phải tổ chức quần chúng. Hai là, cách mạng tất yếu phải chịu sự chỉ huy của chủ nghĩa Mác Lênin. Ba là, cuộc vận động cách mạng ở mỗi quốc gia phải được kết hợp chặt chẽ với giai cấp vô sản quốc tế; công nhân và quần chúng nông dân phải phân biệt rõ giữa đệ tam và đệ tứ quốc tế.” Tưởng Vĩnh Kính cũng cho thấy sự trùng hợp như dập khuôn giữa nghị quyết đại hội kỳ 6 của Trung Cộng với bản hiệu triệu và cương lãnh giản yếu do Hồ Chí Minh đưa ra sau khi hợp nhất các nhóm Cộng Sản Việt Nam thành Đông Dương Cộng Sản Đảng ngày 18-2-1930. Cả hai văn kiện đều dựa theo phương án dành cho các đảng cộng sản Đông Nam Á được đề ra tại đại hội kỳ VI của Đệ Tam Quốc Tế nhưng trong bản hiệu triệu, Hồ Chí Minh đã lập lại đầy đủ 10 khẩu hiệu của Trung Cộng trong nghị quyết đại hội kỳ 6 của Cộng Sản Trung Hoa. Tác giả trưng nhiều bằng chứng cho thấy Hồ Chí Minh luôn hành động rập khuôn theo Trung Cộng, từ việc khai thác chiêu bài kháng chiến chống Nhật qua việc tiếm danh các tổ chức quốc gia, việc lập nên các hội cứu quốc đến thủ đoạn triệt hạ các phần tử khác chính kiến mà tổ chức Việt Minh thi thố sau này: "Những người bị thảm sát đều bị gán cho tội "Việt gian”, tội "làm gián điệp cho địch”, hoặc thân Nhựt vv…Cách thức đó của Việt Minh hoàn toàn giống với Trung Cộng trong khu giải phóng của họ.” (7) Tưởng Vĩnh Kính xác định mục đích tối hậu của Hồ là đoạt chính quyền, chứ không phải dành độc lập cho tổ quốc. Mục tiêu này đã soi sáng mọi hành vi cũng như lời lẽ của Hồ Chí Minh trong giao tiếp với các thế lực ngoại quốc lúc đó là Mỹ, Pháp, Trung Hoa. Tác giả viết: "Nỗi thao thức chính yếu của ông Hồ vào lúc đó không phải là vấn đề có thể sớm đạt được một nền độc lập hay không, mà chính là vấn đề bản thân của Việt Minh có thể đoạt thủ được chính quyền hay không… … Do đó trước khi công tác chuẩn bị cho việc cướp chính quyền chưa hoàn thành, ông không hề mong quân Đồng Minh vào Việt Nam; lại càng không mong các đảng phái Việt Nam khác theo quân đội Trung Hoa trở về Việt Nam để tranh thủ dân chúng và chính quyền cùng với ông. Bởi vậy các thành viên Cách Mạng Đồng Minh Hội không thuộc cộng đảng trở về Việt Nam đều bị Việt Minh bao vây, bắt giết và đội quân dò đường của Trung Quốc vào Việt Nam đã bị quấy phá ngăn trở … ... Ông Hồ đã dùng điện đài Mỹ tại căn cứ của ông để tiếp xúc thẳng với đại diện chính phủ De Gaulle tại Côn Minh, ngoài việc yêu cầu Pháp bảo chứng sẽ trả độc lập cho Việt Nam trong vòng từ 5 đến 10 năm, còn yêu cầu Pháp cấp vũ khí và huấn luyện. Khoảng tháng 7, một đoàn đại biểu Pháp, Mỹ gồm 6 người đã nhảy dù xuống tổng bộ Việt Minh. Ông Hồ đã ngụy trang cho mình một bộ mặt rất "thân Tây phương". John, một thiếu úy Mỹ trẻ tuổi, ở chung mấy tháng với ông Hồ tại căn cứ Việt Minh lúc bấy giờ, đã ngây thơ tin chắc ông Hồ không phải là cộng sản. Dưới cái nhìn của John, giả sử ông Hồ có là cộng sản, thì cũng chắc chắn rằng ông Hồ rất muốn hợp tác với tây phương, đặc biệt là với Mỹ và Pháp. Hiển nhiên, Việt Minh có hành động bài Hoa cũng là nhằm mục đích dụ hoặc người Pháp”. Tưởng Vĩnh Kính cho biết ngay giữa thời điểm đó, Hồ Chí Minh đã có một hành động vừa nhắm lấy lòng Pháp vừa muốn mượn bàn tay Pháp triệt hạ một tổ chức yêu nước là đảng Đại Việt: “Ông Hồ đã dùng điện đài của quân Mỹ để nói xấu và bán rẻ cái mũi nhọn chống Pháp là đảng Đại Việt, hòng tranh thủ lòng ưu ái của Pháp.Trước ngày Nhật đầu hàng không lâu, John đã dùng điện đài của mình đánh đi bức điện tín sau đây giùm ông Hồ: "Đảng Đại Việt đang trù tính gây một cuộc khủng bố chống Pháp đại quy mô và mưu toan giá họa cho Việt Minh. Việt Minh đã ra lệnh cho 2 triệu hội viên và vô số dân chúng ủng hộ, hãy đem hết khả năng đề phòng cẩn mật cùng ngăn chặn kế hoạch phạm pháp này của đảng Đại Việt. Việt Minh xin tuyên bố mục đích rõ ràng của mình là mưu cầu nền độc lập cho quốc gia bằng đấu tranh chính trị; nếu cần thiết phải dùng đến hành động quân sự thì quyết không dựa vào các thủ đoạn hèn hạ và phạm pháp. Ủy ban giải phóng dân tộc VM - ký tên" (8) Theo Tưởng Vĩnh Kính, lúc đó đảng Đại Việt của Nguyễn Tường Tam và Quốc Dân Đảng của Vũ Hồng Khanh hợp nhất thành một lực lượng đấu tranh với thành phần lãnh đạo gồm 29 nhân vật đều là những phần tử trí thức ưu tú của Việt Nam không chỉ được sự ủng hộ của chính phủ Trung Hoa Dân Quốc mà còn có thanh thế rất lớn đối với dân chúng trong nước. Lực lượng này là mối lo cần đối phó trước hết của Hồ Chí Minh. “Bởi vậy, hành động "liên kết với Mỹ” và "bài Hoa” của ông Hồ và mặt trận Việt Minh hoàn toàn đặt cơ sở trên nỗi thao thức về vấn đề sinh tồn và phát triển của bản thân họ. Còn như Việt Nam có đạt được độc lập hay không chỉ là vấn đề thứ yếu thôi.” (09) Trong ý đồ đó, việc lợi dụng danh nghĩa Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội được tác giả nhìn nhận là hết sức cần thiết cho Hồ Chí Minh và phân tích:"…Tại sao ông Hồ và trung ương đảng Cộng Sản Việt Nam lại vẫn muốn lợi dụng lá cờ Việt Nam Độc Lập Đồng Minh (chỉ bỏ chữ "hội” đi một cách khôn khéo mà thôi)? Cách thức đó chính là lặp lại một cách khéo léo điều mà người Cộng Sản gọi là "chiếm lĩnh cơ quan, làm phe tả của họ”. Ý đồ của họ, xét ra không ngoài việc lợi dụng danh nghĩa Độc Lập Đồng Minh Hội để dễ dàng chiêu tập tổ chức quần chúng của nó, thậm chí còn chiêu dụ cả đám tàn dư của phe thân Nhật. Ý đồ chủ yếu của ông Hồ và Cộng Sản Việt Nam khi tiếp thu Độc Lập Đồng Minh Hội hiển nhiên là nhằm chiêu dụ tổ chức quần chúng của hội này. (10) Căn cứ vào các tư liệu tại Quảng Tây thời đó, Việt Nam Độc Lập Đồng Minh được thành lập tháng 7 năm 1935, là sự hợp thành của Việt Nam Quốc Dân Đảng, Độc Lập Đảng, Tân Việt Đảng … Các tổ chức quần chúng của nó cũng được ông Hồ đổi thành các hội "Cứu Quốc” (11) Ý đồ lớn nhất của ông Hồ khi lợi dụng cơ cấu Việt Minh là che giấu cái bộ mặt cộng sản, lợi dụng tình thế cùng tâm lý quần chúng Việt Nam, ngụy trang chủ nghĩa dân tộc, nhằm phát triển thực lực của bản thân.” (12) Tác phẩm của Tưởng Vĩnh Kính không bao quát hết cuộc đời Hồ Chí Minh nhưng đã xác định được chủ đích trong mọi hoạt động của Hồ Chí Minh là tranh thủ quyền hành cho tổ chức của mình để theo đuổi lý tưởng, còn mục tiêu giành độc lập cho đất nước chỉ là mục tiêu giai đoạn bắt buộc phải đạt tới. Hồ Chí Minh tỏ ra không mệt mỏi trong việc hô hào đấu tranh giải phóng dân tộc vì không còn con đường nào khác để phụng sự lý tưởng Cộng Sản và như chính Hồ Chí Minh đã nói – nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập thì quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được. Những trái ngược dễ dàng xẩy ra khi nhận định về Hồ Chí Minh có lẽ vì mức cuốn hút của một ý chí đấu tranh mãnh liệt đã phủ mờ yêu cầu phân tích tính mâu thuẫn tất yếu giữa quyền lợi giai cấp với quyền lợi dân tộc. Do đó, hình ảnh thực tế luôn chao đảo khiến mọi cái nhìn về một con người dựa trên nền tảng này khó tránh khỏi ngả nghiêng. CHÚ THÍCH CHƯƠNG 07 ______________________________ (01) Tên gọi của cơ cấu này theo tài liệu chính thức của Cộng Sản Việt Nam là Bộ Phương Đông Quốc Tế Cộng Sản, còn báo chí thường nhắc theo nhiều cách như Đông Phương Bộ, Ban Phương Đông, Đông Phương Cục hoặc Cục Đông Phương hoặc có khi là Viễn Đông Cục, Viễn Đông Vụ .... (02) - (03) - (04) SĐD tr. 246, 245, 119 (07) Văn Kiện Đảng – T. 3, tr. 195 ghi: Từ ngày 10 đến ngày 19.5.1941 Hội Nghị lần 8 Trung Ương Đảng Cộng Sản Đông Dương họp tại Pác Bó, Cao Bằng. Đây là Hội Nghị Trung Ương Đảng lần đầu tiên họp ở trong nước do Nguyễn Ái Quốc chủ trì với tư cách đại diện Quốc Tế Cộng Sản. Hội nghị đã khẳng định: Trong lúc này khẩu hiệu của Đảng ta là phải làm sao giải phóng cho được các dân tộc Đông Dương ra khỏi ách của giặc Pháp – Nhật ...Vì nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng thì... quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được. Hồ Chí Minh Toàn Tập – T. 3, tr. 197 ghi: Theo sáng kiến của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Hội Nghị trên đã quyết định thành lập Mặt Trận Dân Tộc Thống Nhất rộng rãi mang tên Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội (gọi tắt là Việt Minh) nhằm liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, gái trai, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn. (06)-(07) SĐD tr. 108, 329 (08)-(09) SĐD – Cước chú ghi theo tài liệu của Robert Shaplen các tr. 28-30, tr.361 (10) Về gia nhập các tổ chức để tranh thủ quần chúng, xin xem chương về Phùng Thế Tài. (11)-(12) SĐD tr. 202, 206
Re: HỒ CHÍ MINH - Nhận Định Tổng Hợp * Chương 08* SOPHIE QUINN-JUDGE và Ho Chi Minh, the missing years Sophie Quinn-Judge, nữ tiến sĩ người Anh, ít được biết ngoài giới độc giả của tạp chí Kinh Tế Viễn Đông trong hai thập kỷ trước. Nhưng với tác phẩm Hồ chí Minh: The Missing Years, 1919- 1941 (1), bà đã đem sở trường của mình về môn Nga văn ra kéo chú ý của nhũng nhà nghiên cứu lịch sử vùng Viễn Đông. Được tài trợ bởi hai tổ chức John D. and Catherine T. MacArthur Foundation và Quỹ Sưu Tầm Trung Ương của trường đại học Luân Đôn, bà đã dành gần chục năm nghiên cứu các tài liệu mới được giải mật của Trung Tâm bảo tồn và tài liệu lịch sử hiện đại Nga, trước kia từng mang tên Viện Mác-Lênin và kho tài liệu tình báo hải ngoại Pháp tại Aix-en-Provence. Đó là những nguồn tài liệu chính yếu để dựa vào đó đưa ra những nhận định về Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam. Dĩ nhiên bà cũng đọc nhiều tác phẩm khác của các học giả, sử gia hay các nhà viết tiểu sử mà bà liệt kê trong thư mục thường được coi như nguồn tài liệu thứ yếu. Theo bà, các tác giả đi trước, tả cũng như hữu, khi viết về Hồ Chí Minh đã nói quá đáng về nhân vật này, coi là nhân vật quan trọng của Quốc Tế Cộng Sản và là người trách nhiệm về tất cả công hay tội của Cộng sản Việt Nam. Tác giả có tham vọng đưa ra nhận định cân bằng và sát thực hơn, căn cứ vào những chứng liệu mới. Sách gồm 7 chương chia theo thứ tự thời gian: 1– Từ 1919-1923: Sự xuất hiện của Nguyễn Ái Quốc với 8 điểm yêu sách tại hội nghị Hòa Bình ở Paris và một giải pháp cấp tiến. 2– Từ 1923-1924: Thành viên mới trong Quốc Tế Cộng Sản. Những cuộc tiếp xúc đầu tiên, vai trò Hồ Chí Minh trong Quốc Tế Cộng Sản, đại hội V Quốc Tế Cộng Sản và chủ trương mặt trận thống nhất tại Trung Quốc, nhiệm vụ được giao. 3– Từ 1924-1928: Hoạt động tại Quảng Đông, phong trào nông dân tại đây, tổ chức Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội, sự sụp đổ của mặt trận thống nhất tại Trung Quốc. 4– Từ 1927-1919: Từ đường hướng cũ tới đường hướng mới, những chuyến đi, đại hội VI Quốc Tế Cộng Sản, hoạt động tại Xiêm, sự phát triển và rạn nứt của tổ chức Thanh Niên. 5– Từ 1930-1931: Cao trào cách mạng với những cán bộ được huấn luyện tại Liên Xô quay về nước, sự thống nhất đảng, những cuộc nổi dậy trong Năm Mới, những nhiệm vụ mới của Hồ Chí Minh và sự củng cố quyền lực của Trần Phú. 6– Từ 1931-1938: Chết ở Hồng Kông và chôn tại Mạc Tư Khoa? Hồ bị bắt, được thả rồi trở lại Liên Xô dự hội nghị VII Quốc Tế Cộng Sản, Mặt trận thống nhất tại Đông Dương. 7– Từ 1937- 1941: Trở về với con đường dẫn tới hội nghị trung ương kỳ 8, tình hình thế giới thay đổi, hội nghị Trung Ương kỳ 6 và những cuộc nổi dậy năm 1940, Hồ tiến gần biên giới và hội nghị Trung Ương kỳ 8. Thoạt nhìn tựa sách The misssing years, người đọc hy vọng tác giả sẽ tập trung vào mấy năm từ trước vốn ít được nói tới, như thời gian trước 1917 là năm Hồ Chí Minh từ Anh sang định cư ở Pháp, hay thời gian từ 1934 đến 1938 là lúc Hồ bị cầm chân ở Liên Xô, nhất là lý do khiến ông bị (hay được?) sống, học tập thêm và làm việc tại đây trong một thời gian dài như vậy. Ngay những năm thụ huấn tại trường đại học Lênin cũng không được tác giả nói đến. Nhưng có vẻ những tài liệu bằng Nga ngữ mà tác giả được tiếp cận đã không giúp bà xác quyết được điều gì quan trọng về “những năm thiếu vắng” hay chưa được biết đến này. Cho nên bà đã ghi rõ con số 1919-1941 sau mấy chữ The missing years của nhan sách và đã dành 257 trang sách để nói về hoạt động của Hồ Chí Minh chỉ trong vòng 22 năm đó. Tác phẩm cũng cho thấy Quinn-Judge đã phải dùng đến rất nhiều tư liệu thuộc nguồn thứ cấp và nói đến những sự kiện mà các nhà viết tiểu sử Hồ Chí Minh đã nói cả rồi. Vì thế, những điều gọi là mới mẻ quan trọng không có bao nhiêu. Dường như sự đáng tiếc này khởi từ tình trạng những tài liệu về tình báo của bộ Pháp quốc Hải ngoại mà tác giả tiếp cận không thể bao quát cả thời gian 22 năm của Hồ Chí Minh đồng thời cũng có giới hạn của nó: Làm sao có thể tin báo cáo của các mật báo viên là chính xác? Và những lời cung khai của các nghi can đáng tin cậy đến chừng mực nào? Còn về văn khố của Liên xô cũ nay được giải mật có lưu trữ đầy đủ những văn kiện lịch sử không? Trên thực tế, tại Liên Xô thường có những cuộc thanh trừng đẫm máu, phe nọ chống phe kia. Liệu những kẻ “phản loạn”, “phản cách mạng”, hay những nhà độc tài có dừng tay trong việc thiêu hủy hay vô hiệu hóa, hoặc ngụy tạo một số văn kiện để cố lấy lẽ phải về mình không? Khi tài liệu không còn nguyên vẹn, những phần còn lại có thể cho người nghiên cứu kết luận một cách xác quyết không? Đó là chưa kể nhiều báo cáo được ký nhiều bí danh khác nhau, nhà nghiên cứu khó biết đích xác đó là của ai. Về việc một số tài liệu bỗng dưng biến mất, chỉ xin nêu ba trường hợp được chính tác giả xác nhận: Thứ nhất, trang 88 chương 3, bà cho biết hầu hết (most) trong số 11 thư của Quốc Tế Nông Dân gửi Quốc, và Quốc báo cáo nhận đầy đủ, không tìm thấy bản sao trong hồ sơ của Quốc Tế Nông Dân, mục thư từ với Hồ Chí Minh. Thứ hai, trang 177 chương 5, “giữa 23-7 và 2-9 (1930), Hồ bảo đã gửi cho FEB (Viễn Đông Vụ) 6 lá thư. Nhưng chỉ có một lá ngày 2-9 được tìm thấy trong văn khố của Quốc Tế Cộng Sản.” Hồ nói dối? Hay có người giấu những lá thư đó đi? Bà không dám xác quyết nhưng dùng động từ “claimed” cho người đọc có cảm tưởng bà không tin Hồ lắm. Thứ ba, trang 203 chương 6, nói về đại hội 7 Quốc Tế Cộng Sản tác giả cho biết Hồ đã phê bình Đông Dương Cộng Sản Đảng và viết nhiều báo cáo nhưng không tìm thấy trong văn khố Liên Bang Nga. Vì vậy, Quinn-Judge hay dùng các động từ có nội dung thiếu tính xác quyết như “claim, appear, seem, suggest, assume, would, might, would seem to show..” hoặc những câu nghi vấn “It is unclear, it was not known, one can not tell, I am not sure, we do not know for certain, it is hard to know, if it were correct, remain in the realm of conjecture....” Tuy nhiên nói vậy không có nghĩa tác phẩm không cung cấp được một số dữ kiện hữu ích để nhận dạng Hồ Chí Minh đầy đủ hơn. Cuối chương 1, tác giả cho biết trong thập niên 20, Hồ Chí Minh từng gia nhập hội Tam Điểm, nhưng theo đường lối đại hội IV Quốc Tế Cộng Sản đã cắt đứt liên hệ với tổ chức này. Riêng chuyện Hồ Chí Minh dưới tên Nguyễn Ái Quốc trình thỉnh nguyện thư cho hội nghị Hòa Bình ở Versailles thì hầu hết các sử gia đều đã nói trước. Chương 2, tác giả nhắc lại điều các sử gia đã viết là Hồ Chí Minh đến Liên Xô tham dự đại hội I Quốc Tế Nông Dân (Krestintern), được bầu vào trong số 11 ủy viên ban chấp hành Krestintern. Tác giả trưng dẫn văn kiện của Hồ muốn về Đông Dương qua ngả Trung Quốc, và đề nghị Quốc Tế Cộng Sản cấp nguyệt phí 100 Mỹ Kim để có thể làm nhiệm vụ thu lượm tin tức và công tác tuyên truyền. Tác giả cũng nói đến sách lược (tactics) mặt trận thống nhất mà Quốc Tế Cộng Sản định áp dụng tại Trung Hoa, bắt nguồn từ đề cương về các vấn đề thực dân và dân tộc của Lênin được thảo luận gay gắt tại đại hội V Quốc Tế Cộng Sản. (2) Trong đoạn nói về Hồ Chí Minh và vị thế trong Quốc Tế Cộng Sản, tác giả cho biết không thấy văn kiện chính thức nào xác nhận Hồ Chí Minh học ở trường Lao Động Đông Phương, tức Trường Stalin cho đến năm 1936. Theo bà, nhà văn Nga Yevgeny Kobelev xác nhận chính Hồ Chí Minh đã thuật lại việc học tại trường này. Lãnh tụ Cộng Sản Ấn Manabendra N. Roy cũng cho biết Hồ có học tại đây. Nhưng bà không tin những người này mà cho rằng có thể (it is possible) Hồ chỉ tham dự một lớp huấn luyện nào đó về tổ chức nông dân trong thời gian ở đây, vì ông ta gắn bó với Krestintern. Chỉ dựa vào việc không thấy các văn kiện chính thức trong văn khố để phủ nhận lời của các nhân chứng tên tuổi như Kobelev và Roy cũng khó thể coi là hợp lý. Về sách lược mặt trận thống nhất được thảo luận tại đại hội V Quốc Tế Cộng Sản, sau khi cho biết Manuilski là phát ngôn viên quan điểm của Stalin, tác giả kể việc Hồ Chí Minh khuyên nên điều tra xem Nguyễn Thế Truyền vào đảng Cộng Sản chưa, nếu ông ta đã là cộng sản thì nên ra lệnh cho “xâm nhập nhóm Lập Hiến ở Paris để “noyauter”, tức làm “nhân” thao túng. (3) Như vậy, ngay hồi ấy (1924) Hồ Chí Minh đã lãnh hội hoàn toàn tính sách lược giai đoạn của Lenin trong mặt trận thống nhất là Xâm nhập tổ chức địch để “noyauter”. Liền sau đó, tác giả nói đến vai trò Quốc Tế Cộng Sản trong mặt trận thống nhất tại Trung Quốc. Mỉa mai là mặt trận thống nhất này lại thực hiện từ trên, nghĩa là giữa các cấp lãnh đạo Trung Hoa Quốc Dân Đảng và các lãnh tụ Cộng sản Trung Quốc. Maring là người trong năm 1922 đã thành công trong việc thuyết phục 5 lãnh tụ cộng sản Trung Quốc chấp nhận sách lược mặt trận thống nhất giữa hai phe Quốc – Cộng Trung Hoa. Sau đó là hiệp ước Joffe- Sun, ký kết giữa Adolf Joffe, đại diện Liên Xô và Tôn Dật Tiên, lãnh tụ Trung Hoa Quốc Dân Đảng, theo đó Liên Xô sẽ viện trợ có điều kiện cho Trung Quốc. Cùng lúc đó (đầu năm 1923) Viễn Đông Vụ trực tiếp dưới quyền chỉ huy của ban chấp hành trung ương Quốc Tế Cộng Sản được thành lập tại Trung Quốc. Giữa năm 1923 phái đoàn Borodin đến Quảng Châu, thủ phủ của Quảng Đông. Theo tác giả, Hồ Chí Minh đến Quảng Đông khoảng 11-11-1924, với một sự hỗ trợ nhỏ bé. Đưa ra một số sự việc và trưng dẫn vài lá thư của Hồ, tác giả kết luận: Người ta có thể nói khá chắc chắn rằng Hồ được phái đến Quảng Đông không phải để làm phụ tá hay thư ký cho Borodin như đã từng nghe nói. Tuy nhiên đúng là vị thế và sự liên hệ của ông đối vớí Quốc Tế Cộng Sản trong 2 năm 1923-1924 vẫn còn là một cái gì đó rắc rối khó hiểu. (4) Tác giả cũng trưng dẫn một lá thư của Hồ Chí Minh gửi Petrov, người đứng đầu Cục Phương Đông trong Quốc Tế Cộng Sản để chứng minh dù được cảm tình của Manuilsky, Hồ Chí Minh vẫn không được ưu đãi. Trong thư có đoạn: “Trong 3 tháng Chạp, Giêng và Hai, tôi ở phòng số 176, trong đó luôn có 4 hay 5 người. Ban ngày luôn ồn ào không sao làm việc được. Đêm đến thì bị rệp cắn không sao ngủ.” (5) Chương 3 nói về hoạt động của Hồ tại Quảng Đông nhằm tạo dựng hạt nhân cho đảng Cộng Sản Việt Nam. Hồ Chí Minh đến đây lúc 3 đảng viên của đảng Cộng Sản Trung Quốc được bầu vào Ban Chấp Hành Trung Ương của Trung Hoa Quốc Dân Đảng và 6 người khác trong đó có cả Mao Trạch Đông là ủy viên dự khuyết. Như vậy, đường lối của Quốc Tế Cộng Sản trong giai đoạn này đã tạo điều kiện cho Hồ Chí Minh hoạt động một cách hết sức dễ dàng trong lòng đối phương. Việc Hồ làm được thì hầu hết các tác giả khác đã nói. Điều quan trọng là xâm nhập, lũng đoạn, thao túng, và phá hủy các tổ chức yêu nước khác chính kiến, không tán thành chủ nghĩa Cộng Sản. Trong đoạn về phong trào nông dân Quảng Đông, tác giả cho biết vào tháng 8-1925 Quốc Tế Nông Dân (Krestintern) gửi cho Hồ 5000 rubles (khoảng 2500 MK lúc ấy) qua tài khoản của Borodin trong ngân hàng Viễn Đông và yêu cầu Hồ dùng số tiền này để thi hành 4 việc: 1- Sản xuất bích chương và các tập sách mỏng về vấn đề nông dân. 2- Gửi đại diện tới các tỉnh để tổ chức nông hội. 3- Phái một đồng chí Trung Hoa đáng tin cậy tới Mạc Tư Khoa để làm việc trong Quốc Tế Nông Dân. 4- Cung cấp cho Liên Xô những tin tức và tài liệu về phong trào nông dân ở Trung Quốc. Hồ trả lời sẽ làm đúng theo yêu cầu, trừ điều 3, vì không có ai đủ khả năng ngoại ngữ. Tác giả cho biết Hồ nhận được tất cả 11 lá thư của Quốc Tế Nông Dân. Nhưng hầu hết những thư đó không thấy trong hồ sơ của Quốc Tế Nông Dân liên quan đến thư từ của Hồ. (6) Tác giả không nói về lý do bị mất những lá thư này và cũng không tỏ ý nghi ngờ thư có thể bị giấu hoặc hủy do ghi lại những vấn đề nào đó. Cũng trong đoạn này, tác giả thuật lại biến cố 20-3-1926 nhưng không cho biết lý do tại sao Tưởng Giới Thạch hạ lệnh bắt giữ khoảng 50 người trong số ủy viên chính trị cộng sản tại Hoàng Phố(?). Các cố vấn Xô Viết cũng bị giam lỏng tại nhà. Trước sự trấn áp, Borodin phải nhượng bộ theo yêu cầu của Quốc Dân Đảng, hạn chế vai trò của đảng viên Cộng Sản trong Quốc Dân Đảng. Từ đó, số đảng viên Cộng Sản trong các ủy ban của Trung Hoa Quốc Dân Đảng chỉ còn giữ tỷ lệ một phần ba và đảng viên Cộng Sản bị loại khỏi các chức chưởng cơ quan trong chính quyền Quốc Dân Đảng. Về hoạt động của Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội, tác giả dựa vào văn khố Tình Báo Hải Ngoại Pháp tiết lộ: Hồ thường nhận được những món tiền ủng hộ tổ chức Thanh Niên từ trong nước gửi ra, trong đó có Diệp Văn Kỳ, Khánh Kỳ (một thợ chụp hình, trước kia từng quen Hồ ở Paris) và cả Bùi Quang Chiêu lãnh tụ đảng Lập Hiến, (sau này bị Việt Minh thủ tiêu thời 1945-46). Tác giả cũng nhắc báo cáo 5 điểm của Hồ gửi về Liên xô mà hầu hết các tiểu sử gia đã đề cập. Trong số 5 năm điểm đó có điểm 5 đặc biệt là đã thành lập được một trường Tuyên Truyền. Trong cùng đoạn này, tác giả nói đến vai trò quan trọng của Jacques Doriot trong Quốc Tế Cộng Sản đối với Hồ Chí Minh. Nhân vật này triệt để ủng hộ sách lược mặt trận thống nhất loại liên hiệp Quốc Cộng Trung Hoa và khuyên Hồ Chí Minh: “Nhân dân Đông Dương chỉ có thể đi theo một con đường, nếu thực sự muốn thay đổi tình thế: đó là con đường đấu tranh cho Độc Lập”. Tác giả cho biết Doriot nhấn mạnh công nhân và nông dân là lực lượng đấu tranh chủ yếu nhưng cần gia tăng sự ủng hộ mặt trận thống nhất. Doriot viết tiếp: “Đừng quên rằng dưới sự đô hộ của bọn đế quốc, toàn thể nhân dân (công nhân, nông dân, thương nhân và trí thức) chỉ trừ một thiểu số, vài phần tử đầu cơ trục lợi, đều muốn đánh đuổi đế quốc. Đừng coi nhẹ bất cứ cố gắng nào để lôi cuốn họ hàng ngày đứng vào tổ chức đấu tranh. Đừng từ khước sự hợp tác của họ.” (7) Tác giả cũng trích dẫn nguồn tin của Trung Tâm Lưu Trữ và Nghiên Cứu Tài Liệu Lịch Sử Nga, cho biết Hồ Chí Minh có đệ trình Quốc Tế Cộng Sản một ngân sách một năm lên đến 40 ngàn nhân dân tệ Trung Quốc. Ngân khoản này dùng chi về di chuyển và đào tạo 100 cán bộ tuyên truyền ở Quảng Đông. Cộng thêm một ngàn rưởi cho hoạt động toàn thời gian của 10 cán bộ tuyên truyền và thêm 8 ngàn rưởi nữa cho công tác xuất bản phát hành, giao thông liên lạc... Ngoài ra còn một số chi phí cần thiết khác, kể cả dự trữ cho những khoản bất thường. (8) Hồ Chí Minh luôn luôn chú trọng hoạt động tuyên truyền và đào tạo cán bộ tuyên truyền nên đã dồn ngân khoản do Quốc Tế Cộng Sản cấp để làm việc đó. Về sự sụp đổ của mặt trận thống nhất, tác giả nói đến việc Tưởng Giới Thạch tấn công Cộng Sản Trung Quốc ngày 12-4-1927 khiến sách lược mặt trận của Liên Xô phá sản. Bà không cho biết lý do khiến Tưởng hành động như vậy, có lẽ vì không thấy tài liệu nào trong văn khố Nga về lý do đó. Riêng các tài liệu Trung Hoa Dân Quốc cuối thập niên 1950 cho biết đầu năm 1927 nhà cầm quyền Trung Quốc bắt được một mật thư của tòa đại sứ Nga gửi cho Trung Cộng xúi “dùng mọi biện pháp thúc đẩy quần chúng bài ngoại, khiêu khích người ngoại quốc trả thù. Muốn đạt mục đích này, không được lùi bước trước bất cứ thủ đoạn nào, ngay cả cướp bóc, tàn sát. Và khi có sự xô xát giữa người Âu và người Trung Hoa thì phóng đại ra để khuấy động dân gây rối loạn.” Sau đó Quốc Dân Đảng lại bắt được một mật điện do Borodin gửi ủy viên quân sự Nga Dorosky ra lệnh cho ông này phá hoại kế hoạch Bắc tiến. (9) Bà cũng cho biết, mặc dù có vụ Quốc Dân Đảng Trung Hoa tấn công Cộng Sản tháng 4-1927, tổ chức Thanh Niên của Hồ Chí Minh vẫn tồn tại ở Quảng Đông, “nhờ liên hệ với phong trào giải phóng dân tộc không cộng sản, kể cả với nhóm tả phái trong Quốc Dân Đảng Trung Hoa.” (10) Ba tháng sau biến cố tháng 4, trung ương Quốc Tế Cộng Sản ra tuyên bố kết án Quốc Dân Đảng Trung Hoa là phản động, và chỉ thị Cộng Sản Trung Quốc cảnh giác. Nhưng, tác giả trích Harold Isaacs,“ (Quốc Tế Cộng Sản) vẫn khuyên (Cộng Sản Trung Quốc) hãy ở lại trong Quốc Dân Đảng bằng cách áp dụng sách lược mặt trận thống nhất từ dưới, nghĩa là hành động trong quần chúng vô sản ... xây dựng những tổ chức lao động... tăng cường các nghiệp đoàn ... chuẩn bị quần chúng lao động hòng chuẩn bị cho những hành động quyết định... vũ trang cho công nhân và nông dân... tổ chức một bộ máy đảng đấu tranh bất hợp pháp có trình độ. (11) Qua trưng dẫn trên, dù biết rõ “kẻ thù” là phản động, Quốc Tế Cộng Sản vẫn khuyên đồng chí không xa lìa mà cần ở lại tổ chức địch để tổ chức và tăng cường lực lượng của mình. Hồ Chí Minh đã thực thi đúng sách lược đó ở Hoa Nam với tổ chức Thanh Niên vào thời gian này và gần hai chục năm sau tại Việt Nam: Liên hiệp với các đảng đối lập dùng uy tín của họ củng cố lực lượng mình, tiêu diệt lực lượng địch. Sách lược thống nhất và liên hiệp với phong trào giải phóng dân tộc chỉ là diệu kế để tiêu diệt các tổ chức không cộng sản. Chương 4, tác giả dựa vào tài liệu của Trung Tâm Lưu Trữ Tài Liệu Liên Bang Nga cho biết: “Tháng 9-1927, Quốc Tế Cộng Sản ra huấn thị cho công việc tương lai của Hồ và phái ông ta sang Paris vào tháng 11 để phối hợp kế hoạch với ủy ban Thuộc địa của đảng Cộng Sản Pháp. Lúc này đảng Pháp Cộng lãnh trách nhiệm nuôi dưỡng cộng sản ở Đông Dương, nhưng trong thực tế các thành viên của đảng CS Pháp làm việc dưới sự kiểm soát chặt chẽ từ Mạc Tư Khoa.” (12) Liền sau đó tác giả nói rõ: “Mặc dầu Quốc Tế Cộng Sản đã hết ảo tưởng với Trung Hoa Quốc Dân Đảng, những huấn thị mà Hồ Chí Minh mang theo sang Paris đã phản ánh sách lược mặt trận thống nhất với các lực lượng dân tộc. Bản huấn thị hai trang ghi “Quốc phải giúp hợp nhất các người cách mạng dân tộc trong số di dân Đông Dương (trước tiên ở Paris, rồi trên cả nước Pháp), bằng cách tạo ra một cái nhân cộng sản trong số những phần tử dân tộc đó...” (13) Tác giả có vẻ muốn chứng minh Hồ ít liên hệ và ít được Quốc Tế Cộng Sản giúp đỡ nên đưa ra những trường hợp Hồ chí Minh không được ưu đãi hay ủng hộ, tuy nhiên những điều này lại cho thấy Hồ Chí Minh luôn lệ thuộc Quốc Tế Cộng Sản. Chẳng hạn trong đoạn đầu chương 4, tác giả viết: “Mùa đông năm ấy (1927) Quốc Tế Cộng Sản quá bận rộn vì những vấn đề quan trọng hơn chuyến đi của Hồ Chí Minh... Nhưng đến tháng 4 Hồ vẫn chẳng nhận được tin tức gì của Mạc Tư Khoa hay của Doriot. Quốc Tế Nông Dân cũng chẳng giúp được gì. Ông ta phải hỏi xin họ cấp 500 Mỹ Kim và cho một “kế hoạch tổ chức thực tiễn để tôi có thể hoạt động hữu ích” (14) Dù muốn dù không, mấy hàng trên đã chứng minh khá rõ sự lệ thuộc của Hồ Chí Minh vào Liên Xô, từ tài chính đến kế hoạch hoạt động. Hơn 40 trang chương 5 dành bàn về cao trào cách mạng trong 2 năm 1930 và 1931. Đoạn đầu nói tới sự trở về của các cựu học viên trường Stalin trong đó tác giả nhấn mạnh vai trò của Trần Phú để chứng minh Hồ Chí Minh không phải đại diện duy nhất của Quốc Tế Cộng Sản trong việc thống nhất đảng Cộng Sản Đông Dương. Cuối cùng tường thuật những việc làm của Hồ để thực hiện việc thống nhất này, tác giả viết: “Hai ngày sau khi tới Hồng Kông, Hồ viết cho các lãnh tụ phe phái trong Đông Dương Cộng Sản Đảng để giải thích về sứ mạng mà Quốc Tế Cộng Sản đã trao cho mình nhằm thành lập một đảng cộng sản tại Việt Nam....Ông ta yêu cầu phe Đông Dương Cộng Sản gửi hai đại diện sang gặp ông ta ở Hồng Kông. Hồ cũng viết cho Viễn Đông Vụ (FEB) để loan báo sự có mặt của mình tại Hồng Kong và đệ trình những đề nghị. Theo Dương Hắc Định thì Hồ đã xin một khoản lương hàng tháng là 240-300 tiền Trung Hoa, trả qua ủy ban Quốc Dân Đảng của đảng Cộng Sản Trung Quốc.” (15) Về cuộc bột phát cách mạng tại Trung Quốc và vùng Nam Hải, tác giả viết: “Hồ Chí Minh lúc này xem ra đã lên tới tột điểm uy quyền trong Quốc Tế Cộng Sản dường như đã trở lại Hồng Kong để giải quyết một tình thế ngoài vòng ảnh hưởng của ông ta.” Rồi trích dẫn một tài liệu của Hồ liên quan đến việc chuẩn bị cho cuộc nổi dậy vũ trang: “Ông Hồ nói một cách rõ ràng: “Nhiệm vụ quân sự của đảng bao gồm: huấn luyện quân sự cho các đảng viên; tuyên truyền vận động quần chúng trong quân đội; tổ chức những toán bảo vệ công nhân và nông dân”. Ông ta dành hầu hết sự chú tâm của mình cho công việc tuyên truyền và khuấy động trong quân đội”. (16) Giải thích tại sao Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến tuyên truyền trong quân đội, tác giả viết: “Hồ nói: binh sĩ bản xứ bị bắt vào quân đội xuất thân từ những làng mạc, nên đừng đối xử với họ như “tất cả đều là chó săn” của đế quốc. Ông ta chỉ rõ: Trong một cuộc biểu tình tại Chợ Lớn, nông dân đã phạm lỗi lầm xỉ vả binh sĩ, thay vì tuyên truyền vận động họ.” Đây là điểm đặc biệt quan trọng chứng tỏ Hồ thấu đáo sách lược Lenin trong vấn đề thuộc địa và dân tộc nhưng tác giả có vẻ ít quan tâm, nếu không muốn nói là không có ý nghĩ gì về vấn đề. Tác giả viết tiếp:“Ông Hồ nói:“Trong công tác tuyên truyền khuấy động quần chúng, đảng phải truyền bá chương trình “cách mạng dân chủ tư sản” trong đám binh sĩ, và dùng tình cảm dân tộc để làm cho họ tán thành phong trào cách mạng của công nhân và nông dân và chấp nhận sự lãnh đạo của đảng”. Mấy chữ “chấp nhận sự lãnh đạo của đảng” có nghĩa là chấp nhận quyền lãnh đạo độc tôn tuyệt đối của Cộng Sản và như thế thì cái gọi là cách mạng dân chủ tư sản (mà Hồ bảo phải truyền bá) chỉ còn là sự lừa phỉnh. Áp chót chương 5, tác giả nói về cuộc hôn phối giữa Hồ Chí Minh và Nguyễn Thị Minh Khai với các từ seems (2 lần), assume, apparently, unknown... Nhưng theo bà, trường hợp Minh Khai là một trong hai trường hợp rõ ràng nhất vì có chứng từ hẳn hoi. Trường hợp kia là Tăng Tuyết Minh. Đoạn trích dịch dưới đây được tác giả đặt trong ngoặc đơn: (Những nguồn tài liệu của Pháp liên quan đến Minh Khai khiến người ta có thể tin rằng cô này đã có nhiều mối tình với các đồng chí trong thập niên 1930-1940. Ví dụ, năm 1932 sở cảnh sát tin chắc cô ta là người tình của Trần Ngọc Danh, em (tổng bí thư) Trần Phú. Năm 1933 họ lại chặn bắt được một lá thư viết từ Hồng Kông, hình như (seemingly) để cự tuyệt một kẻ theo đuổi mình, trong thư đó nàng tuyên bố “tôi không còn bị ám ảnh bởi ý tưởng lấy chồng hay làm mẹ... Người chồng duy nhất của tôi là Cách Mạng Cộng Sản.” Nhưng khoảng cuối năm 1934, khi đã ở Mạc Tư Khoa, nàng viết mình đã lấy chồng là Lin, bí danh của Hồ lúc ấy. Những tiểu sử gia Việt Nam nói Minh Khai kết hôn với Lê Hồng Phong tại Mạc Tư Khoa vào năm 1935, nhưng không có tài liệu nào thời đó chứng minh.) (17) Cuối chương 5 bàn về hội nghị trung ương tháng 3-1931 do Trần Phú điều khiển với một nghị quyết cứng rắn mang tính giai cấp rõ rệt đã dẫn đến một cuộc thanh trừng nội bộ. Những phần tử trí thức, những kẻ còn giữ xu hướng quốc gia dân tộc đều bị loại khỏi đảng. Tác giả viết: “Bản nghị quyết ghi: Một trong những mối nguy to lớn nhất là đảng viên vẫn chưa hiểu rõ vị thế của giai cấp vô sản trong cách mạng và các nhiệm vụ của đảng…Cần phải dần dần thay thế đại diện của trí thức và những phần tử bảo thủ trong các cơ quan lãnh đạo bằng những công nhân và bần nông. Đảng nhận chỉ thị phải điều tra các nông hội và loại những phần tử không liên hệ với bần nông và công nhân thành thị. Cuộc đấu tranh giai cấp ở nông thôn cần được mở rộng và mọi ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc phải được phá hủy tận gốc rễ…” (18) Sau đó tác giả thuật lại cuộc thanh trừng nội bộ và diễn biến của Xô Viết Nghệ Tĩnh khiến hàng ngàn “chỉ điểm viên” hay những nông dân muốn ngăn chặn phong trào bị tàn sát, để rồi sau đó Pháp có cớ mở các cuộc tảo thanh bắt giữ và xử tử hàng trăm đảng viên Cộng Sản. Từ đó kết thúc cao trào cách mạng. Chương 6 mang tựa đề “Chết ở Hồng Kông, chôn tại Mạc Tư Khoa” bàn về hoạt động của Hồ Chí Minh từ 1931 đến 1938. Nói về thời gian bị tù tại Hồng Kông, tác giả cho biết Hồ Chí Minh đã theo chiến thuật bào chữa được Quốc Tế Cộng Sản cổ võ, khai là một người yêu nước đấu tranh cho vua và tổ quốc Việt Nam, dù trong hộ chiếu ghi là người Trung Hoa! Tháng 7-1931, tổ chức Viện Trợ Quốc Tế Đỏ (International Red Aid) xếp đặt để một luật sư đoàn tài giỏi do Frank Loseby lãnh đạo bào chữa cho Hồ. Ít hàng sau bà nói đến một cuộc vận động cánh tả trong khắp thế giới nhằm ủng hộ cho một Noulens bí nhiệm đã khiến vụ án Hồ Chí Minh được chú ý nhiều hơn. (19) Theo tác giả, tháng 7-1934 Hồ Chí Minh mới đến Mạc Tư Khoa và tháng 10 được vào trường Lênin. Thời gian đó Đông Dương chỉ riêng Hồ Chí Minh học trường này. Kirsanova, giám đốc trường mô tả đây là lò rèn duy nhất (the only forge) rèn luyện cán bộ cho Quốc Tế Cộng Sản và được coi như viện đào tạo lãnh tụ cộng sản ngoại quốc. Nhưng Hồ Chí Minh bị đối xử như một phần tử thất sủng. Tác giả cũng cho biết Hà Huy Tập đã giới thiệu Nguyễn Thị Minh Khai là vợ của Quốc tham dự đại hội 7 Quốc Tế Cộng Sản cùng với Lê Hồng Phong và chính Khai cũng khai mình đã thành hôn với Lin, là bí danh của Hồ lúc ấy. Nhưng Hồ Chí Minh không khai chuyện này trong hồ sơ lý lịch nhập học trường Lênin. Về đại hội 7 Quốc Tế Cộng Sản, tác giả cho biết Hồ Chí Minh đã viết bản phê bình các thất bại của Đảng Cộng Sản Đông Dương hai năm 1930-1931, và còn nhiều báo cáo khác nữa, nhưng những báo cáo này không thấy trong văn khố liên bang Nga! Trong bản phê bình, Hồ Chí Minh nhắc đến “cách mạng dân chủ tư sản” và bảo cán bộ chẳng hiểu gì về ý nghĩa mấy từ đó. Vì vậy Hồ đề nghị biên soạn một loạt sách mỏng đơn sơ dễ hiểu về bản Tuyên Ngôn Cộng Sản, lịch sử Quốc Tế Cộng Sản, vấn đề chủ nghĩa dân tộc, vấn đề ruộng đất và kết thúc bằng “cách thành lập mặt trận thống nhất” và những nghị quyết của Quốc Tế Cộng Sản về vấn đề thuộc địa. Bà viết: “Hồ biết cách lựa đúng lúc để trưng dẫn Stalin. Ông ta viết: “Stalin nghìn lần có lý khi nói: “Lý thuyết cho các đồng chí ... quyền lực chỉ huy, tương lai trong sáng, đức tin trong việc làm và sự xác tín về lẽ tất thắng của chính nghĩa.” Tác giả cũng cho biết sau khi Hồ Chí Minh bị bắt, được thả rồi sang Liên Xô, uy tín của Hà Huy Tập đã tăng nhanh. Hà Huy Tập đã tố cáo Trần Văn Giàu và Hồ Chí Minh trong báo cáo gửi Đệ Tam Quốc Tế nên thời gian đại hội 7 có lẽ Hồ Chí Minh mất tín nhiệm thê thảm nhất. (20) Khi Hồ Chí Minh và Lê Hồng Phong đều ở Mạc Tư Khoa, đại hội I Đông Dương Cộng Sản Đảng ở Ma Cao cho Hà Huy Tập quyền điều khiển đảng. Đại hội chỉ cho Hồ Chí Minh làm ủy viên trung ương dự khuyết. Trái lại Hà Huy Tập tự dành địa vị trong Hải Ngoại Vụ là cơ quan có quyền hướng dẫn trung ương đảng về chính trị. Cuối bản báo cáo đọc trước đại hội, Hà Huy Tập đã tố cáo Hồ Chí Minh và kết luận: “Chúng tôi đề nghị đồng chí Lin phải đích thân viết một cuốn sách nhỏ tự phê chính mình và những sai sót đã qua.” (21) Tác giả nhắc việc Hà Huy Tập cáo buộc Hồ Chí Minh chịu trách nhiệm về hàng trăm đảng viên bị bắt ....(như phần đông các tác giả trước đã viết) và còn cho biết Hà Huy Tập quả quyết chính tổng bí thư cộng đảng Xiêm, từng theo chân Hồ cũng nói trước 1930 Hồ không phải là cộng sản. Theo tác giả, Hồ đã bị điều tra bởi bộ ba gồm Manuilsky, Kang Cheng và Vera Vasilieva. Manuilsky trung lập, Kang Cheng đòi hành quyết, còn Vera thì bênh, viện lẽ Hồ sai lầm chỉ vì thiếu kinh nghiệm. Về đại hội VII, Quốc Tế Cộng Sản, tác giả nhắc lại việc đưa ra đường lối ủng hộ một liên minh với cánh tả dân chủ xã hội nhằm chống Phát Xít tại Âu châu và cho là Hồ đã đi trước thời đại khi muốn nhìn lại những thất bại trong 2 năm 1930-1931 liên quan đến sự hiểu lầm “cách mạng dân chủ tư sản”. Như đã biết, sau đại hội VII mặt trận Bình Dân (hay dân tộc) ra đời tại Pháp và sách lược mặt trận thống nhất dân tộc được áp dụng trở lại. Do đó trung ương Đông Dương Cộng Sản đảng cũng có những chỉ thị, lời kêu gọi và thư ngỏ cổ võ liên hiệp giữa các phe phái nhằm thống nhất “phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Dương”. Chương 6, tác giả cho biết sau đại hội VII, Hồ Chí Minh tiếp tục theo học tại trường Lenin tới hết năm 1935. Năm 1936 ông sang trường Stalin làm việc chung với Vera Vasilieva, phụ trách giảng dạy các học viên Việt Nam. “Làm việc với Lin thật thích thú...” Vera nói vậy! Vera là người từng bênh vực Hồ và là người cùng với lãnh tụ Manuilsky đặc trách các vấn đề Đông Dương trong Quốc Tế Cộng Sản. Cuối năm 1936, Vera đưa kế hoạch lập trường huấn luyện tại Trung quốc và phái Hồ sang đó để tổ chức và điều khiển trường này. Bà dự trù một ngân sách 3000 Mỹ Kim để đào tạo 10 học viên cho mỗi 2 tháng. Nhưng cuối cùng dự án bị hủy bỏ nên Hồ tiếp tục ở lại Liên Xô cho đến 1938. Tác giả cũng nêu sự kiện trong khi Hồ chỉ làm việc phiên dịch và dạy cho học viên người Việt theo một thứ bậc thấp, Nguyễn Khánh Toàn được cử làm giảng viên thực thụ. Tác giả viết về hoàn cảnh và vị thế chênh vênh của Hồ trong giai đoạn này như sau: “Khó tưởng tượng nổi một đảng viên kỳ cựu như Hồ Chí Minh có thể tiếp tục hoạt động qua thời kỳ điên loạn này. Nhưng tháng 1-1938 ông vẫn còn đang dịch những lá thư hiếm hoi từ Đông Dương gửi tới. Việc ông sống sót qua những năm kinh khủng nhất của thời kỳ thanh trừng thường được coi là dấu chỉ của sự bảo vệ mà một cán bộ cao cấp sống sót là Manuilsky đã dành cho ông. Nếu không phải vậy thì chỉ vì ông là một kẻ theo chủ nghĩa Stalin trung thành mà thôi.” Cuối cùng Hồ cũng được cho rời khỏi trường và chẳng bao lâu sau trở lại Trung Quốc. Chương 7, Hồ Chí Minh trở lại Trung Quốc mùa thu 1938, khi Liên Xô và Trung Hoa Quốc Gia tái lập liên minh với hiệp ước bất tương xâm được một năm và Mặt Trận Bình Dân ở Pháp đã sang năm thứ hai. Sự liên minh mới này dẫn đến tái lập mặt trận thống nhất dân tộc giữa Đảng Cộng Sản và Quốc Dân Đảng Trung Quốc nhằm chống Phát Xít. Trong bối cảnh đó, nhiệm vụ bí mật mà Hồ nhận từ Quốc Tế Cộng Sản – gồm 8 điểm phải học thuộc lòng, như tác giả ghi rõ – để đem về áp dụng là đưa đảng Cộng Sản Đông Dương vào một “mặt trận dân chủ dân tộc rộng rãi” gồm cả những Pháp kiều tiến bộ và giới tư sản dân tộc. (22) Xin lưu ý mấy chữ nhiệm vụ bí mật mà Hồ nhận từ Quốc Tế Cộng Sản. Mùa xuân năm trước, 1937, Minh Khai và Hoàng Văn Nọn cũng học thuộc lòng huấn thị của Quốc Tế Cộng Sản để mang về Hồng Kông, chuyển giao cho Hải Ngoại Vụ của Quốc Tế Cộng Sản. Theo tác giả, huấn thị này rất gần với huấn thị 8 điểm mà Hồ đã mang theo. Lại xin lưu ý mấy chữ học thuộc lòng và nhớ lại Hồ Chí Minh cũng học thuộc lòng 8 điểm chỉ thị của Quốc Tế Cộng Sản. Học thuộc lòng tức không có văn bản mang theo. Các tổ chức bí mật, tổ chức đen, Mafia thường chỉ ra lệnh miệng. Những việc tàn ác tầy trời của Cộng Sản Việt Nam cũng như Cộng Sản thế giới phần nhiều do lệnh miệng của lãnh tụ. Nếu theo nguyên tắc pháp lý của chế độ dân chủ Tây Phương để xét hành động của Cộng sản, nhất là Cộng Sản Trung Hoa và Cộng Sản Việt Nam e là khó tránh lầm lạc. Tác giả viết: “Tháng 4-1938, ban lãnh đạo Đảng Cộng Sản Đông Dương đã thỉnh cầu Quốc Tế Cộng Sản gửi đều đặn huấn thị về các vấn đề chính trị, tổ chức và mỗi 5 hoặc 6 tháng, phái một đồng chí lãnh đạo mang những huấn thị đó cùng với tài chính viện trợ. Thêm vào khoản tiền ứng trước 5000 MK để in sách, họ cũng xin gửi cố vấn và ngân khoản để mở một trung tâm huấn luyện hợp pháp tại Trung Quốc theo đường lối những năm 1926-1927. Có thể Hồ Chí Minh được phái sang Trung Quốc lần này là thể theo lời thỉnh cầu đó.” (23) Tuy nhiên, tình hình Đông Dương lúc ấy không giống tình hình Trung quốc. Cho nên việc thực hiện sách lược mặt trận dân tộc dân chủ năm 1939 đã gây tranh luận giữa các lãnh tụ Đông Dương Cộng Sản Đảng như Phan Văn Tạo, người từng dự đại hội VI Quốc Tế Cộng Sản, Lê Hồng Phong, nguyên tổng bí thư và từng đại diện Đông Dương Cộng Sản Đảng tại đại hội VII Quốc Tế Cộng Sản và Nguyễn Văn Cừ, tổng bí thư lúc ấy. Theo tác giả, lập trường của Nguyễn Văn Cừ trong cuốn Tự Phê tóm lại là: “Chính sách của đảng là ủng hộ việc thành lập mặt trận dân chủ – nhưng mặt trận này phải thành lập trong phạm vi những phong trào đấu tranh quần chúng mạnh mẽ. Mặt trận dân chủ phải là một hình thức đấu tranh giai cấp cũng như kháng chiến chống đế quốc”. Về hoàn cảnh của Hồ Chí Minh, tác giả viết: “Khi đọc những bài báo của Hồ Chí Minh trên tờ Notre Voix, người ta thấy hoàn cảnh của ông ở giữa cuộc chiến Hoa – Nhật là một thế giới riêng biệt khác hẳn Sài Gòn với các cuộc bầu cử lúc ấy. Ông đã dấn thân vào công việc tuyên truyền ủng hộ Trung Quốc, xây dựng niềm tin vào khả năng kháng Nhật của nó. Tháng 8 và tháng 9-1939, tình hình quốc tế thay đổi đã đưa Đông Dương Cộng Sản Đảng vào những cuộc tranh luận nội bộ gay gắt: Ngày 23-8, hiệp ước Molotov-Ribbentrop bỗng đặt những người cộng sản theo Liên Xô vào chung chiến tuyến với Đức Quốc Xã. Và, chiến tranh bùng nổ tại Âu châu, khi Đức tiến đánh Ba Lan ngày 1-9-1939. Ngày 28-9, toàn quyền Pháp ở Đông Dương đặt đảng cộng sản ra ngoài vòng pháp luật và suốt trong một năm cộng sản đệ tam cũng như đệ tứ đều bị lùng bắt.” Về hội nghị trung ương kỳ VI và những cuộc nổi dậy năm 1940, tác giả cho biết đa số cán bộ lãnh đạo Đông Dương Cộng Sản Đảng tán thành nổi dậy để phản ứng lại tình hình thay đổi lúc ấy bằng cách thành lập mặt trận thống nhất phản đế cuối năm 1939. Lúc ấy giải phóng dân tộc trở thành mục tiêu chính. Trong một thông tư phổ biến tháng 12-1939, Đảng Cộng Sản kêu gọi các lực lượng đấu tranh của vô sản, nhân dân lao động các nước nhược tiểu “hãy đoàn kết với Liên Xô”. Hãy vùng lên đấu tranh “để dập tắt ngọn lửa chiến tranh bằng cách loại trừ tận gốc là hệ thống đế quốc tư bản.” (24) Nhưng cuộc nổi dậy ở Nam Kỳ đã thảm bại, dẫn đến hàng trăm đảng viên bị bắt và bị hành quyết. Theo Trần Huy Liệu, có tới 100 cán bộ lãnh đạo bị giết. Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ, Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai và Nguyễn Hữu Tiến tất cả đều bị hành quyết trong tháng 8-1941. Lê Duẩn và nhiều đảng viên cộng sản khác như Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Tạo ngồi tù cho tới khi Nhật đầu hàng năm 1945. Riêng Lê Hồng Phong chết trong tù năm 1942. Từ đó Hồ trở nên lãnh tụ danh chính ngôn thuận (nguyên văn: legitimate leader). Ngay Trường Chinh cũng phải được Hồ chấp thuận mới được giữ chức tổng bí thư. (25) Đoạn cuối chương 7 và cũng là đoạn chót của tác phẩm, trước khi tóm tắt để kết luận:“Tháng 10-1940 Hồ Chí Minh và đám cận thần từ Côn Minh đến Quế Lâm. Đây chính là thời điểm cộng sản hải ngoại quyết định dùng cái vỏ (26) Việt Minh cho mặt trận dân tộc của mình. Đây cũng chính là tổ chức đã được thành lập tại Nam Kinh năm 1936 bởi Hồ Học Lãm, Hoàng Văn Hoan, Lê Thiết Hùng, Phi Vân, Nguyễn Hải Thần và một số người khác. Vì tổ chức này là tổ chức được chính thức đăng ký ở Trung Quốc nên trở thành cơ cấu thích hợp cho những mục tiêu của Hồ Chí Minh.” (27) Tác giả cũng nhắc đến “Việt Nam Dân Tộc Giải Phóng Đồng Chí Hội” (28) của Trương Bội Công và Nguyễn Hải Thần thành lập năm 1941 và bảo cái nhân (nucleus) của nó là Việt Minh. Như vậy Việt Minh vừa là cái vỏ của đảng Cộng Sản vừa là cái nhân của tổ chức của Trương Bội Công. Điều lạ là tác giả không nói đến việc Hồ Chí Minh lập Mặt Trận Việt Minh tại Pác Bó và cũng không kể chi tiết về tổ chức của Trương Bội Công. Tác giả nhấn mạnh sự kiện hội nghị 8 trung ương Đông Dương Cộng Sản Đảng do Hồ Chí Minh chủ tọa sau ngày trở lại Trung Quốc và dựa theo báo cáo của mật báo viên bí danh “Ursule” tìm thấy trong văn khố Pháp Quốc Hải Ngoại (AOM), để khẳng định hội nghị này được tổ chức ở Tĩnh Tây, Quảng Tây, chứ không phải ở trong quốc nội. Ủy ban trung ương đảng họp trên lầu, còn ủy ban Bắc Kỳ họp ở tầng trệt. Hồ Chí Minh dự cả hai, sáng với trung ương và chiều với địa phương. Trong hội nghị kỳ 8, Trường Chinh được chính thức xác nhận là tổng bí thư đảng. Tác giả nêu lên thành tích của ông Hồ trong việc sát nhập Đông Dương Cộng Sản Đảng vào mặt trận thống nhất với Trung Hoa Quốc Dân Đảng và các đảng phái quốc gia Việt Nam có đại diện ở biên giới. Cuối chương 7, tác giả cho biết “mặc dầu Liên Xô đã trở lại với liên minh thế giới chống Phát Xít vào tháng 6-1941, nhưng lúc này hoàn toàn bị thu hút vào cuộc chiến sinh tử với quân Đức, nên không còn chú ý đến Á châu được.” Tác giả bảo Quốc Tế Cộng Sản chính thức tuyên bố giải tán ngày 22-5-1943. Bà nói là từ đó cho đến năm 1947, không có bằng chứng cho thấy Cộng Sản Việt Nam đã nhận được chỉ thị hướng dẫn hay ngân khoản từ Mạc Tư Khoa. Tác giả viết về hội nghị trung ương kỳ 8: “Các chính sách đưa ra trong hội nghị trung ương kỳ 8 đã trở thành khuôn thước cho các hoạt động thời chiến của Việt Minh. Nhưng, như những cuôïc nghiên cứu về sự nắm chính quyền của Việt Minh vào tháng 8-1945 cho thấy, những chính sách đó không được phổ biến đồng đều trong nước; cũng không được toàn thể đảng viên chấp nhận. Trong những năm sau đó, con người thực dụng Hồ Chí Minh tiếp tục phải đương đầu với sự chống đối giữa nội bộ đảng trong cố gắng xây dựng một liên hiệp các phần tử yêu nước.” Qua đoạn này, tác giả cố chứng minh là Hồ Chí Minh bắt đầu điểu khiển đảng đã phải đơn thương độc mã quyết định chính sách và không nhận được viện trợ từ Quốc Tế Cộng Sản, đồng thời còn bị chống đối từ nội bộ đảng. Nhưng Hồ vẫn cương quyết chủ trương lập một liên minh với các phần tử quốc gia yêu nước, để tranh đấu cho nền độc lập của tổ quốc. Từ lập luận đó, tác giả kết luận: “Coi Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Đông Dương thuần túy là sản phẩm của Quốc Tế Cộng Sản là một sự xuyên tạc vĩ đại” (29) và “Chính tài năng của Hồ Chí Minh... đã bảo đảm cho ông địa vị của một lãnh tụ thành công nhất trong cuộc tranh đấu dành độc lập.” (30) Lời kết luận dù mang tính quả quyết vẫn không đủ sức dập tắt tiếng nói cất lên từ các sự kiện được chính tác giả trưng dẫn về sự lệ thuộc của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Đông Dương vào Quốc Tế Cộng Sản. Đó là những lần Hồ Chí Minh hay đồng chí báo cáo công tác, dự thảo kế hoạch trình lên các cơ quan phụ thuộc của Quốc Tế Cộng Sản, hay những nhân vật đầu não của tổ chức này như Manuilsky chẳng hạn, để xin duyệt và chấp thuận, nhất là những lá thư xin tiền, đề xuất ngân sách cho các chương hành động. Tác giả đã cho biết trong thời gian thực thi sách lược mặt trận thống nhất dân tộc giữa Đảng Cộng Sản và Quốc Dân Đảng Trung Hoa tại Trung Quốc, Quốc Tế Cộng Sản đã đặt văn phòng Viễn Đông Vụ (FEB) để giải quyết các vấn đề của vùng này gồm cả Đông Dương. Vậy, dù có lúc không liên lạc trực tiếp được với Quốc Tế Cộng Sản ở Mạc Tư Khoa, không có nghĩa là không nhận được sự giúp đỡ và chỉ thị của tổ chức (qua trung gian FEB hay Đảng Cộng Sản Trung Quốc). Tác giả cũng không nói về liên hệ của Hồ Chí Minh với Noulens tuy nhắc đến tên nhân vật này hai lần. Chính mối liên hệ với Noulens mới quan trọng, chứ không phải liên hệ với Borodin. Vì việc Hồ Chí Minh được cử làm phụ tá và thông dịch cho Borodin chỉ là vỏ bọc cho những công tác quan trọng hơn nhận từ nhân vật đại diện Quốc Tế Cộng Sản, Hilaire Noulens, dù Noulens với tên thực Jakov Rudnik chỉ giữ vai trò trưởng phòng giao thông liên lạc tại Thượng Hải. Có lẽ tác giả đã bỏ sót tài liệu của Duiker và Hồng Hà kể lại nhiệm vụ đích thực của Hồ Chí Minh chỉ có vợ chồng Borodin biết. Tác giả cũng tỏ ra ít quan tâm tới một điểm quan trọng trong chiến lược sách lược đấu tranh của Cộng Sản do Lênin và Stalin đề ra là các hình thức mặt trận thống nhất, mặt trận dân tộc, mặt trận dân chủ, mặt trận phản đế vv... dù nhắc đến rất nhiều lần, kể cả mặt trận thống nhất mà Liên Xô chủ trương tại Trung Quốc, để hai đảng Quốc-Cộng liên minh trong thế liên minh Xô-Trung. Liên minh này không xảy ra một lần mà còn tái diễn. Đã có lần cộng đảng bị tảo thanh, đàn áp, nhưng họ vẫn mượn cớ kháng Nhật tiếp tục liên minh với “kẻ thù giai cấp” để có cơ hội lợi dụng thanh thế của Quốc Dân Đảng tìm cách tuyên truyền, vận động, lôi kéo quần chúng nhập cuộc đấu tranh giai cấp của Quốc Tế Cộng Sản. Đây cũng là phương thức mà Hồ Chí Minh đã triệt để áp dụng đối với các đảng phái quốc gia Việt Nam tại Hoa Nam và sau này tại quốc nội mà hậu quả là không biết bao nhiêu nhà ái quốc tên tuổi, không biết bao nhiêu người yêu nước vô danh đã bị đảng cộng sản do Hồ Chí Minh lãnh đạo thủ tiêu, hãm hại, xô đẩy vào chỗ chết. Tất nhiên không thể bảo phương thức này chỉ cần thiết cho việc giành độc lập tổ quốc chứ không vì quyền lợi của Quốc Tế Cộng Sản. Sophie Quinn-Judge có vẻ thích thú về ý nghĩ là Hồ Chí Minh không được Quốc Tế Cộng Sản ưu đãi, thậm chí còn bị ngược đãi tới mức có lúc gần như bị giam lỏng, nhưng nhờ biết vận dụng thời cơ, có tài trí ứng phó với thời cuộc, nhất là vì yêu nước thực sự khiến nhân dân triệt để ủng hộ nên đã thành công. Một chứng cớ được đưa ra trưng dẫn cho tình trạng trên là thư của Hồ Chí Minh than phiền phải ở một căn phòng chật chội ồn ào, đầy rệp... tại “khách sạn” Lux, một thứ nhà tập thể. Nhưng cũng chính thời gian đó, tại đại hội đầu tiên của Quốc Tế Nông Dân, Hồ Chí Minh đã được bầu làm một trong 11 ủy viên trung ương. Giữa vị thế quan trọng được xác định và điều kiện cư trú tồi tàn thì vấn đề sau không có ý nghĩa gì. Vả lại, nhiều tài liệu cho biết chính Borodin cũng tạm trú tại khách sạn Lux nên có thể hiểu đó là do tình trạng kinh tế lúc ấy ở Liên Xô. Một dẫn chứng khác là việc Hồ Chí Minh bị cầm chân hơn 4 năm tại Liên Xô chưa hẳn là do bị ngược đãi mà có thể là do được biệt đãi cho theo học trường Lenin là trường lúc ấy chỉ có riêng Hồ Chí Minh là người Đông Dương duy nhất được học. Sau đó Hồ Chí Minh còn được tham gia thành phần huấn luyện viên của trường Stalin. Thực ra, tác giả gần như không cho biết về công việc của Hồ Chí Minh tại trường Lenin cũng như trường Stalin, dù nhan sách nhằm nói về những năm thiếu vắng trong tiểu sử Hồ Chí Minh mà những năm có mặt tại hai trường này chính là những năm thiếu vắng đó. Rất có thể Hồ Chí Minh bị lưu lại Liên Xô một thời gian dài do cần điều tra về một số nghi vấn trong khi hoạt động tại Hoa Nam vì sơ sót để bị bắt hoặc vì lý do được nhà cầm quyền Anh tại Hương Cảng phóng thích dễ dàng, đồng thời cũng có thể do mục đích chỉnh huấn, tái tạo giúp Hồ Chí Minh có đủ bản lãnh trở thành một cán bộ đầu não để sau này lãnh đạo đảng Cộng Sản Đông Dương. Việc được phái trở lại Hoa Nam sau khi mặt trận thống nhất Quốc, Cộng Trung Hoa tái lập chứng tỏ Hồ Chí Minh phải được tin cậy về khả năng vận dụng sách lược mặt trận của Lenin đã thấm nhuần từ đầu và thấu triệt hơn sau khóa học 1935-1936 tại trường Lenin. Trên thực tế, những việc làm khởi từ đó đã chứng tỏ Hồ Chí Minh mới là người theo chủ nghĩa Lenin thuần thành hơn hẳn các đồng chí như Trần Phú, Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ ... và một số đông khác về sự hiểu thấu ý nghĩa và công dụng của sách lược mặt trận thống nhất dân tộc, dân chủ.... Tác giả cho biết chỉ căn cứ vào sự kiện và chỉ nêu những sự kiện có chứng từ lấy từ văn khố Nga và Pháp là chính và cho biết có nhiều chứng từ đã bị mất. Thực ra, dù có đầy đủ cũng không thể quên rằng bên cạnh những chứng từ giá trị luôn luôn không thiếu những chứng từ ngụy tạo về những điều không có thực, trong khi toàn bộ sự nghiệp và con người của một nhân vật nào đó không thể bao quát chỉ bằng những sự kiện có chứng từ. Chỉ dựa vào các sự kiện có chứng từ để nhận diện một nhân vật lịch sử là nền tảng hoàn toàn bất ổn, nhất là với một nhân vật có quá nhiều nghi vấn. Cuối cùng, tác phẩm của Sophie Quinn-Judge cũng không vượt xa hơn nhiều tác phẩm đã có mặt vì chỉ phản ảnh những suy luận chủ quan dựa trên một số chứng từ hạn chế. CHÚ THÍCH CHƯƠNG 08 ______________________________ (01) Tạm dịch Hồ Chí Minh, những năm chưa biết đến, 1919-1941, University of California Berkeley, Los Angeles 2002. (02) - (03) - (04) - (06) SĐD tr. 46-48, 59, 64-66, 88 (05) Bức thư tìm thấy trong hồ sơ Trung Tâm lưu trữ tài liệu Liên Bang Nga (RC, 495, 154, 594...) (07) SĐD tr 102. Tác giả dẫn tài liệu của Trung Tâm lưu trữ tài liệu Nga số RC, 495, 154, 555, p. 5. (08) SĐD tr. 103. (09) Sách lược Xâm Lăng của CS – Minh Võ, Sài Gòn 1970, tr. 25. (10) SĐD tr. 108. (11) SĐD tr. 110. Về hai chữ từ dưới, xin nhắc lại là đã có lúc tác giả nói đến thống nhất từ trên, nghĩa là thống nhất giữa các cấp lãnh đạo 2 bên. (12) SĐD tr. 111. (13) SĐD tr. 116. Chúng tôi nhấn mạnh mấy chữ sách lược và cái nhân, để lưu ý độc giả đến âm mưu của Quốc Tế Cộng Sản chỉ muốn dùng người yêu nước như bình phong, cái vỏ bề ngoài để che giấu và củng cố cái cốt lõi cộng sản của họ ở bên trong. Không có cái vỏ “sách lược mặt trận dân tộc”, thì không tạo được cái nhân, hoặc không bảo vệ được cái nhân cộng sản. (14) SĐD tr. 119, 275. Chú thích số 17, chương 4, của tác giả ghi: RC, 535,1, 42, p. 68, thư (của Quốc) từ Berlin, ngày 16-12-1927. (15) - (17) - (18) - (19) - (20) SĐD tr. 155, 182-183, 185-186, 192-193, 204. (16) Xin lưu ý mấy hàng trên đây liên quan đến vấn đề tuyên truyền. (21) SĐD tr. 205, trích thư Hà Huy Tập ngày 31-3-1935, và nói bản Nga ngữ không có trong văn khố. (22) SĐD tr. 222, trích dẫn thư của Hồ nhắc lại các huấn thị và sự kiện này vào tháng 7-1939, tìm thấy trong văn khố Nga mang số RC, 495, 10a, 140, p. 106 (23) - (24) - (25) SĐD tr. 227, 236 tác giả trích Văn Kiện Đảng, II: 1930-1945 tr. 389, 245-246 (26) Tác giả dùng từ mantle có nghĩa là cái áo khoác bên ngoài. Nếu quan niệm đây là một hoạt động bí mật loại gián điệp, tình báo, thì có thể dùng hai chữ “vỏ bọc” (cover). Chúng tôi tạm dịch bằng chữ “vỏ”, để đối lại với cái nhân (nucleus) được giấu ở bên trong. (27) - (30) SĐD tr. 246, 250- 251 (28) Tác giả để nguyên văn danh xưng bằng tiếng Việt trong ngoặc đơn. (29) Nguyên văn: “To view Ho Chi Minh and the ICP as purely the creations of the Comintern would be a great distortion”.
Similar topics
Who is onlineUsers browsing this forum: No registered users and 0 guests |