Mật thư tội ác của chủ-nghĩa Cộng-sản - Le livre noir du...

Keywords for this topic
livre, noir, mật, huynh, hoi, sản, thư, cộng, tội, nghĩa, của, chủ, york, tràng, lầu
Offline

Re: Mật thư tội ác của chủ-nghĩa Cộng-sản - Le livre noir du...

Postby TTL » Fri Jan 11, 2008 11:42 pm

Phần 2. Chương 17C

Cách mạng thế-giới - Nội chiến và khủng bố
Komintern được phát động và các hành động của cơ-quan này



Đảng cộng sản Yougoslave cũng đã chịu quá nhiều đau khổ do các cuộc khủng bố của Staline ra lịnh. Năm 1921 đảng cộng sản này đã chính thức bị cấm hoạt động, các đảng viên thọat đầu di tản sang Vienna vào các năm từ 1921 đến 1936, rồi sang Paris từ năm 1936 đến 1939.

Nhưng một số đông đảng viên đã chạy qua Moscou vào năm 1925 và nơi đây được coi là trung tâm. Họ là các học viên trường đại học của các dân thiểu số cộng sản, của trường Quốc tế chính sách Lénine, và của trường Đại học cộng sản Serdlov.

Đến năm 1929, vị vua Yougoslave la Alexandre thiết lập chế độ độc tài, lại thêm một lớp mới dân Yougoslave chạy qua sô-viết, tăng cường thêm số người Yougoslave đã sống tại đây. Trong các năm của thập niên 1930, tại liên bang sô-viết đã có từ 200 đến 300 người dân Yougoslave sinh sống và là các cán bộ của cơ quan Komintern, hay trong các tổ chức quốc tế khác và rieng cho tổ chức thanh niên cộng sản Quốc tế.

Lẽ dĩ nhiên các tổ chức này đều do đảng cộng sản sô-viết thống nhứt lãnh đạo. Các người cộng sản Yougoslave viết tắt là PCY. Trong nhiều trường hợp đã phải có sự can thiệp của tổ chức Komintern vào các cuộc tranh giành, các cuộc can thiệp đã thường xuyên diễn ra và nhiều khi có tính cách cưỡng bức. Vào giữa năm 1925 đã diễn ra một cuộc kiểm soát - khai trừ ( tên gọi là Tchistka ) ở trong tổ chức KUMMZ, các học viên của trường Đại học này có khuynh hướng thiên về phía các người thuộc nhóm Công giáo chống đối. Opposition Ouvrière, chống lại viện trưởng là Maria J. Fzoukina. Vài người học viên đã bị đuổi ra khỏi trường và bị khiển trách, có bố người trong số này đã bị bắt giam ( Ante , Ciliga, Dedic, và Eberling đã bị bắt và đưa đi đày tại Sibérie ). Đến năm 1932, lại xảy ra một cuộc thanh trừng trong đảng PCY và 16 người lãnh tụ khác đã bị khai trừ.

Sau khi Kirov bị ám sát, việc kiểm soát các người dân thuộc nước ngoài trên bình diện chính trị đã được tăng cường vào mùa Thu năm 1936. Các người lãnh tụ của PCY đều phải chịu sự kiểm thật ( vérification ) trước khi họ chịu sự khủng bố. Khác với số phận các người công nhơn vô danh, số phận của các người di dân thuộc diện chính trị đã cho biết rõ : 8 người thư ký của ủy ban trung ương PCY, và 15 thành viên của ban trung ương cũng 21 người thư ký thuộc các phân bộ địa phương đã bị bắt và cùng mất tích tất cả. Một trong những người thư ký tên Sima Marksvitch, đang phục vụ tại Viện Hàn Lâm Khoa Học, người này bị bắt buộc phải di cư sang Nga sô viết, đã bị bắt vào tháng 7 năm 1939, đã bị kết án 10 năm tù giam không có quyền liên lạc với bất cứ một ai và y đã chết trong tù. Các người khác sau khi bị bắt đã bị hành quyết liền như trường hợp của hai anh em Vujovic, Radimir là thành viên của ủy ban trung ương PCY và Gregor thành viên của ủy ban trung ương quốc tế ; các em của họ là Voja cựu thành viên trách nhiệm của thanh niên quốc tế cộng sản đã liên đới với Troski vào năm 1927 đã biệt tích và làm cho các em của y cũng bị bắt giam. Milan gorkic, thơ ký của ủy ban trung ương đảng PCY từ năm 1932 đến năm 1937 đã bị buộc tội tổ chức một toán người chống lại sô viết trong lòng quốc tế cộng sản và đã lãnh đạo một nhóm người khủng bố ở trong lòng của tổ chức Komintern, tổ chức khủng bố này do ông Knorin và Piatnitski chỉ huy. Vào giữa năm 1960, PCY đã phục hồi danh dự cho cả hơn hàng trăm người nạn nhân nhưng không có làm một cuộc điều tra nào. Lẽ dĩ nhiên là các cuộc điều tra này, nếu có sẽ đặc ra vấn đề gián tiếp cho các người đã là nạn nhân của các cuộc đàn áp dùng để nhắm vào các người thân Nga sô viết xảy ra tại Yougoslavie sau cuộc ly khai giữa Yougoslavie và Liên bang sô viết vào năm 1948. Nhưng lại đưa ra ánh sáng vấn đề nhức nhối là việc Tito (Josip Broz) lên làm chủ tịch đảng vào năm 1938 đã diễn ra sau một cuộc thanh trừng đẩm máu. Chuyện xảy ra khi Tito chống lại Staline , đã không làm bớt được trách nhiệm của Tito trong các cuộc thanh trừng diễn ra vào các năm 1930, diễn ra trong đảng PCY.

Cuộc săn bắt các người trốt kít

Sau khi đã tàn sát các người cộng sản sống trên đất Nga sô-viết, Staline khởi cuộc tấn công các người cộng sản ly khai sống ở các nước ngoài. Và đây chỉ là dịp để cơ quan NKVD phô trương quyền lực của họ trên khắp thế giới.

Trường hợp điển hình và ngoạn mục là của Ignaz Reiss, tên thật là Nathan Poretski. Reiss là một người Do Thái trẻ tuổi làm cách mạng từ lúc chiến tranh 1914-1918 còn đang diễn ra, như ở Trung Âu đã từng xảy ra, tổ chức Komintern đã tuyễn mộ các người cách mạng trẻ tuổi. Là một người khuấy rối chuyên nghiệp ( agitateur professionnel ) Reis phục vụ trong các hệ thống bí mật quốc tế và đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ mà y được giao phó và y đã được tặng huy chương Cờ Đỏ vào năm 1928 . Sau năm 1935, y được cơ quan NKVD chiếu cố vì cơ quan này được bổ nhiệm kiểm soát tất cả các bí mật ở các nước ngoài cùng với nhiệm vụ về gián điệp ở nước Đức. Cuộc xử án đầu tiên ở Moscou đã làm đão lộn tinh thần của Reiss và y quyết định cắt đứt liên hệ cảm tình với Staline.

Hiểu rõ nội bộ cùng đường lối xử sự và các mánh khóe của cộng sản, Reiss đã chuẩn bị chu đáo cuộc đào tẩu của y và ngày 17 tháng 7 năm 1937, y cho công khai công bố bức thư của y gởi cho ủy ban đảng cộng sản Nga thống nhất. Trong bức thư y đã giải thích và nêu danh đích danh Staline và chủ nghĩa Stalinis mà y gọi là lợi dụng một cách tồi tệ các cơ hội chủ nghĩa , mà nơi đó các cơ hội chủ nghĩa này không có mộ nguyên tắc hành sự ; chỉ biết làm đổ máu, thực hiện các lời nói láo, và với các việc này sẽ đầu độc toàn thế giới, sẽ đưa đến việc tiêu diệt các phong trào công nhơn . Reiss cũng đòng thời cho biết là ysẽ gia nhập vào hàng ngũ của Léon Trotski. Như vậy là Reiss đã không ngờ là y tự ký vào lịnh tử hình đối với y. Cơ quan NKVD, lập tức huy động mạng lưới bí mật của cơ quan này tại Pháp và đã tìm ra chổ Reiss đang ở tại Thụysĩ và gài bẩy để hạ sát Reiss.

Tại Lausanne buổi tối ngày 4 tháng 9 nam 1937, hai đảng viên người Pháp đã bắn chết Reiss, trong lúc đó một nữ nhân viên NKVD toan tính ám sát vợ và đứa con trai của Reiss bằng cách đem biếu họ một hộp sô-cô-la (chocolat) có tẩm thuốc độc. Mặc dầu với các việc điều tra cần mẫn của cơ quan công an Pháp và Thụy sĩ đều không tìm ra được hai tên sát nhân và người nữ nhân viên hầu có thể truy tố họ được. Trtoski đã tố cáo Jacques Duclos lúc ấy là một trong các người thơ ký của đảng cộng sản Pháp (PCF) và yêu cầu người thư ký riêng của mình là Jan van Heijenoort gởi một bức điện thư cho thủ tướng Pháp : Chantemps, chủ tịch hội đòng bộ trưởng, trong vụ ám st Ignaz Reiss, / Ăn trộm các văn khố của tôi và các tội ác tương tự, tôi xin phép nhấn mạnh phải hỏi cung, hay ít nửa là như nhân chứng Jacques Duclos, phó chủ tịch của phòng các dân biểu và là nhân viên kỳ cựu của cơ quan Guépou . Bùc điện văn này không đạt được một cách quả nào và Jacques Duclos là phó chủ tịch phòng các dân biểu từ năm 1936.

Vụ ám sát Reiss lẽ dĩ nhiên là ngoạn mục và năm trong một kế hoạch rộng lớn để thu tiêu các người Trốt kít. Vì vậy không lấy gì làm ngạc nhiên về việc tàn sát các người thuộc phe trốt kít ở Nga cũng như việc tàn sát các người khác. Việc làm ngạc nhiên mọi người là dù ở các nước ngoài, các cơ quan đặcbiệt của NKVD ở các nước ngoài đã sốt cuồng lên (avec hargne) để thủ tiêu các người đối lập, hay là các người theo phe trốt kít được thành lập tại các nước này. Căn bản của công tác này là việc kiên nhẩn để xâm nhập (infiltration) vào các nhóm trốt kít này.

Tháng 7 năm 1937, vị lãnh tụ chịu trách nhiệm của văn phòng đối lập trốt kít quốc tế tên là Rudolf Klément đã mất tích. Ngày 28 tháng 8 người ta khám phá ra một tử thi cục đầu và tay chân, nổi lên trên sông Sein gần Paris, và người ta đã nhận diện được là Klement. Người con trai của Trotski, tên là Leon Sedov, đã chết ở Paris sau khi chịu một cuộc giải phẫu ; các điểu kiện về cái chết này có nhiều điều đáng nghi ngờ và thân nhân của kẻ quá cố đã nghĩ đây là một vụ ám sát do các cơ quan đặc biệt của Nga sô viết đã tổ chức khéo léo. Trái lại trong cuốn hồi ký của Pavel Soudsplatov đã ghi là không hề có việc này. Nhưng việc được xác nhận là Léon Sedov đã bị đặt dưới sự theo dỏi chặt chẻ (surveillance) của cơ quan NKVD. Một người thân cận của Sedov, tên là Mark Zborowski, là một nhân viên của cơ quan NKVD được phái xâm nhập vào số các người thân cận Sedov.

Ngược lại, Soudoplatov đã nhìn nhận là vào tháng 3 năm 1939, chính Béria và Staline đã ra lịnh ám sát , cũng chính Staline cùng với Soudoplatov lo phụ trách việc này. Staline đã nói với y : Phải thanh toán y nội trong năm nay trước khi chiến tranh xảy ra, việc chiến tranh xảy ra là một việc không thể tránh được và còn thêm : ( đồng chí sẽ tùy thuộc vào Béria và không người nào khác, vậy đồng chí chịu hoàn toàn trách nhiệm về nhiệm vụ này ). Một cuộc lùng bắt tàn nhẩn đã diễn ra và đưa đến Mexico, là nơi người lãnh tụ của phong trào của Đệ Tứ Quốc Tế đang cư ngụ, sau khi người này đã bôn tẩu qua các nơi như Paris, Bruxelle và Mỹ quốc. Với sự đồng lỏa của đảng cộng sản Mexico, các nhân viên của Soudsplatov sữa soạn và thi hành một cuộc mưu sát đầu tiên vào ngày 24 tháng 5 mà Trotski đã thoát được cuộc mưu sát này và coi như là một phép lạ ( micracle ).

Với sự xâm nhập vào giới thân cận của Trotski, tên Ramon Mercader, một tên giả của người nhân viên của Soudsplatov để tìm cách trừ bỏ Trotski. Mercader đã lần lần gây được lòng tin của một người nữ lãnh tụ trốt kít và đã đến gần được ông Già . Vì ít nghi ngờ, Trostki đã chấp nhận cho tên này gặp theo lời yêu cầu của hắn vì hắn muốn xin ý kiến của Trotski về một bài viết của hắn để bào chửa cho Strotski, một người cách mạng. Trong lúc Trostki đang ngồi bên bàn giấychú ý đọc bài viết của Mercader thì tên này đến đứng bên cạnh Trotski và dùng một cái búa nhọn bằng sắt đặp vào đầu Trotski. Bị vết thương quá nặng, Trotski rú lên một tiếng lớn. Vợ của Trotski và các người hộ viên liền chạy ùa vào, còn tên Mercader thì đùng im, hắn đã thành công việc mưu sát. Ngày hôm sau Trotski qua đời.

Louis Aragon - năm 1931

Tiên triệu cho thời hoa anh đào.

Tôi ca tụng cơ quan Guépou đã thành hình, ở Pháp vào thời điểm này.
Tôi ca tụng cơ quan Guépou, cần thiết cho nước Pháp .
Tôi ca tụng cho cơ quan ở mọi nơi, và không có tại mọi nơi.
Tôi ca tụng cho cơ quan để chuẩn bị cho kết thúc một xã hội.
Hãy xin cơ quan Guépou để bảo vệ cho các người bị phản bội.
Và để bảo vệ cho các người luôn luôn đã bị phản bội.
Hãy xin một cơ quan Guépou, anh mà người ta đè nén và người ta giết.
Hãy xin một cơ quan Guépou, anh cần có một cơ quan Guépou.

Hoan hô cơ quan Guépou hình ảnh của biện chứng pháp của sự anh hùng.
Và người ta có thể chống lại hình ảnh của các người phi công ngu độn.
Do các thằng ngu độn là các anh hùng khi chúng không còn, cái mõm của chúng xuống đất.
Hoan hô cơ quan Guépou, hình ảnh vĩ đại của biện chứng pháp.
Hoan hô cơ quan Guépou chống lại trời Chiappe và bài quốc ca Marseillaise.
Hoan hô cơ quan Guépou chống lại giáo hoàng và các con rận.
Hoan hô cơ quan Guépou chống lại sự nhẫn nhục của các ngân hàng.
Hoan hô cơ quan chống lại các cuộc thao luyện ở hướng Đông.
Hoan hô cơ quan Guépou chống lại gia đình.
Hoan hô cơ quan Guépou chống lại chủ nghĩa xã hội loại của Caballero Boncour và Mac Donald Zoergibel.
Hoan hô cơ quan Guépou chống lại tất cả kẻ thù của giới vô sản.
Hoan hô cơ quan Guépou.

Do Jean Malaquais sao lục. Tên Louis Aragon người yêu nước nhà nghề. Phụ trương của nghuyệt san Các khối quần chúng. Tháng 2 năm 1947.

Việc xâm nhập giữa các đảng cộng sản và các chi bộ thuộc tổ chức Komintern, do cơ quan NKVD chủ động đã bị Trotski tố cáo và ông đã nhận thức là tổ chức Komintern đã bị cơ quan Guépou và NKVD chi phối. Trong văn thư đề ngày 27 tháng 5 năm 1940 gởi cho ông tổng biện lý của nước Merxico, ba ngày sau khi mưu sát hụt Trotski, và ông là nạn nhân ; ông đã viết : Cơ quan Guépou đã có các truyền thống và các phương pháp đã được tạo dựng ở ngoài lảnh thổ của Liên bang so viết. Cơ quan Guépou cần sự che chở hợp pháp hay bán hợp pháp để tuyển mộ các nhân viên ; cơ quan này đã tìm được môi trường thuận tiện và sự che chở nơi cái gọi là các đảng cộng sản . Trong bản văn cuối cùng, cũng nói về các câu chuyện ở một cuộc mưu sát xảy ra ngày 24 tháng 5, ông đã trở về các chi tiết của hành động này mà ông suýt là nạn nhân. Đối với ông, ông vẩn dùng danh hiệu GPU được chấp nhận năm 1922 khi ông còn làm chỉ huy trưởng cơ quan này đó là bộ phận chính quyền lực của Staline và đó cũng là công cụ dùng để khủng bố thống trị độc tài ở URSS với một tinh thần toi đòi và vô liêm sĩ, tinh thần này đã lan tràn trên toàn tổ chức Komintern và đã đầu độc phong trào các người công nhơn đến tận xương tủy. Ông đã nhấn mạnh rất dài dòng về chiều hướng đặc biệt này đã quyết định nhiều đến các tầng lớp của các đảng cộng sản. Về phương diện tổ chức, cơ quan GPU và tổ chức Komintern không giống nhau, nhưng họ có sự liên kết không thể nào làm rời nhau ra. Họ dả bị bắt buộc phải lệ thuộc vào nhau, không phải tổ chức Komintern ra lịnh cho GPU mà trái lại cơ quan GPU đã chế ngự hoàn toàn tổ chức Komintern .

Việc phân tích này đã dựa vào nhiều nguyên tố hay khái luận là do các thành quả của hai chiến cuộc mà Srotski đã từng sống qua : Thứ nhất, khi còn là một trong những người lãnh đạo một nhà nước sô-viết đang thành hình và thứ hai, khi trở thành một người bị phóng trục ( proscrit ) bị săn đuổi qua mọi nước bởi các nhân viên của cơ quan NKVD, tên các người này ai cũng đều biết chắc chắn. Vào thời gian này đó là những người chỉ huy các đặc vụ tổ chức này được Nikolai Iejov thành lập vào tháng 12 năm 1936 : Serguei Spiegeglass ( y đã thất bại ) Pavel Soudoplatov ( chết vào năm1996 ) và Naoum Eitingon ( chết vào năm 1918 ) các người này đã thành công nhờ vào các đồng lõa.

Về việc ám sát Trotski xảy ra ngày 20 tháng 8 năm 1940, tất cả các chi tiết đã được các cuộc điều tra cho biết hết và do các cuộc điều tra tại chổ, về sau Julian Gorkin đã tiếp tục cứu sét lại các hồ sơ của các cuộc điều tra đã được thực hành. Hơn nửa người ta đã biết được ai là người chủ chốt (commanditaire) trong vụ này, các nguồn tin đã được công nhận bởi Soudoplato tên sát nhân là Jaime Raimon Mercader, con của Caridad Mercader một người cộng sản phái nữ đã từ lâu làm việc cho tổ chức đặc vụ , và cô này đã trở thành người tình của Naoum Eitignon. Tên sát nhân Mercader đội lốt dưới tên Jacques Mornard để tìm cách đến gần Trotski. Tên Jacques Mornard là tên của một người có thiệt, người này ở Belgique và đã từ trần vào năm 1967. Jacques Mornard đã gia nhập trung đoàn quốctế và đã chiến đãu bên Espagne. Có thể là giấy thông hành của Mornard đã bị đặc vụ so viet mượn tạm, Mercader còn dùng một tên khác là Jacson, người Canada đã chết khi chiến đãu tại Espagne cũng trong trung đoàn quốc tế và giấy thông hành của y cũng để cho Mercader xử dụng. Ramon Mercader đã chết vào năm 1978 ở La Havane, Fidel Castro đã mời y đến làm việc ở đây với tư cách là cố vấn cho các việc thuộc về bộ nội vụ. Mercader đã được thưởng huân chương cao quý nhất của liên bang so viết và đã được đem chôn ở Moscou trong vòng kín đáo.

Staline sau khi đã trừ bỏ được đối thủ cuối cùng về chính trị, nhưng không phải vì vậy mà các cuộc truy lùng các phần tử trốt-kít chấm dứt. Gương mẫu của cộng sản Pháp đã biểu lộ tâm tính trong những phản ứng mà các người lãnh tụ cộng sản Pháp đã hấp thụ được để đối phó với các người lãnh tụ của các nhóm nhỏ người Trốt-kít.Trong khi nước Pháp bị quân Đức chiếm đóng, có nhiều người trốt-kít Pháp đã bị tố cáo cho công an Pháp hay là cơ quan Gestapo bắt giam họ, việc này là việc có thể xảy ra. Ở trong các khám đường của Pháp và ở trong các trại tập trung thời Vichy, các người Trốt-kít đều bị biệt giam riêng biệt. Tại Nontron thuộc vùng Dordogne, Gérard Bloch đã chịu sự ngược đãi bằng cách biệt đãi (ostracimes) trong tổng số các người cộng sản Pháp cùng bị giam do sự mưu đồ của Michel Bloch (con của nhà văn Jean Richard Bloch. Sau đó, Gérard Bloch đã được dời qua khám đường ở Eysses, có một thầy giáo phe khán chiến người công giáo bị bắt giam chung đã báo trước cho Gérard Bloch .

Nằm trong bối cảnh hận thù mù quán này, vụ mất tích của bốn người trốt-kít trong số này có Pietro Tresso, sáng lập viên đảng cộng sản Italie xảy ra trong khu rừng kháng chiến (maquis) FTP wodli thuộc vùng Haute Loire đã nói lên tất cả ý nghỉa. Họ cùng vượt ngục Puy en Velay ngày 1 tháng 2 năm 1943 cùng với các người bạn cộng sản , năm người đãu tranh trốt-kít đã được sự bao quản ( pris en charge) của các người kháng chiến ( maquis) cộng sản. Một trong 5 người này, vì sự tình cờ đã được tách rời ra khỏi nhóm trốt-kít. Tên người này là Albert Demazière và là người mai mắn được sống sót : Tresso, Pierre Salini, Jean Reboul, Abraham Sadek đều đã bị các người FTP hành quyết vào tháng 10, sau một vụ giả dạng (simulacre) tòa xử đáng chú ý. Các người nhơn chứng và các người diễn viên còn sống sót đã thuật lại là 4 người đãu tranh này đã bị buột tội là toan tính bỏ thuốc độc vào nước uống , một lối tố cáo của thời trung cổ moyen âge và đưa trở lại nguồn gốc Do-thái của Trotski. (Con của Trotski tên là Sergueĩ còn ở lại nước Nga cũng bị tố cáo giống như 4 người đãu tranh trốt-kít ), và hơn nửa cũng có thêm một người tù của các người kháng chiến gốc Do-thái tên là Abraham Sadeck. Như vậy, phong trào cộng sản đã chứng tọ họ đã không tránh khỏi việc bài Do-thái một cách vụng về. Trước khi họ bị ám sát, bốn người đãu tranh trốt-kít đã được chụp hình , có lẽ để cho các tổ chức cao cấp của đảng cộng sản Pháp nhận diện và họ bị bắt buộc phải viết bản mô tả tiểu sữ của họ cùng các hoạt động đãu tranh.

Trong các trại tập trung, ( camp de concentration ) ở Đức, những người cộng-sản tìm cách tiêu diệt các đối thủ chính trị ở gần họ bằng cách lợi dụng các địa vị mà họ đã đạt được trong hệ thống các nất thang quản trị ( échelle de gestion ) của các trại giam. Ông Marcel Beaufrère người có trách nhiệm tại vùng Bretagne của đảng thợ thuyền quốc tế bị bắt giam vào tháng 10 năm 1943 và đưa đi quatrại Buchenwald vào tháng giêng năm 1944, đã bị nghi ngò là người của phe trốt-kít bởi một người cộng sản làm xếp của các liên trại (interblocs) Mười ngày sau, một người bạn báo cho anh biết là tổ cộng sản của trại 39, nơi anh đang ở đã lên án tử hình anh và muốn đưa anh qua trại của các người sẽ được làm vật thử nghiệm về y khoa , nơi đây họ sẽ chích vào người anh các vi trùng của bệnh chí rận (typhus). Ông Marcel Beaufrère vào giờ chót đã được các người đãu tranh người Đức cứu sống ? Họ chỉ cần xử dụng phương pháp tập trung của người Đức để trừ bỏ (débarrasser) các đối thủ chính trị, dù là các người này cũng là những nạn nhân của cơ quan Gestapo hay bọn SS , bằng cách gởi các người này đi vào các toán lao động nguy hiễm nhứt (commando). Hai người Marcel Hic và Roland Filatre, cả hai đều bị đưa đi trại Buchenwald và đã bị chuyển qua trại khũng khiếp Dora , với sự ưng thuận của các cán bộ KPD, các cán bộ này đang làm các việc hành chánh ở trong trại. Marcel Hic đã chết tại trại này. Tài liệu của Rodslphe Prager viết trong bài : Các người trốt-kít ở trại Buchenwald in trên nguyệt san phê bình cộng sản số 25 tháng 11 năm 1978. Còn về phần Roland Filatre sống sót và được giải phóng đã trở về đời sống dân sự sau chiến tranh ; nhưng ông vẫn bị theo dỏi và năm 1948 đã thoát được một cuộc mưu sát tại nơi ông làm việc.

Nhiều vụ thủ tiêu các người đãu tranh trốt-kít khác đã diễn ra sau khi nước Pháp được giải phóng. Là một người công nhơn trẻ tuổi thuộc nhóm đãu tranh giai cấp ở vùng Paris, Mathieu Bucholz đã biệt tích ngày 11 tháng 9 năm 1947, tờ báo của nhóm ông đã nêu lên thủ phạm của cuộc biệt tích này là các người cộng sản thân Staline.
Ở Hy Lạp (Grece) phong trào trốt-kít không có thể nói là không đáng kể. Một người thư ký của đảng cộng sản Hy lạp viết tắt là KKE tên Pandelis Pouliopoulis, đã bị các người lính Italie xử bắn. Ông này đã gia nhập đảng cộng sản trước khi xảy ra chiến tranh. Khi xảy ra chiến tranh, các người trốt-kít với tư cách cá nhơn, họ dả gia nhập vào hàng ngũ của mật trận giải phóng quốc gia (EAM) thành lập vào năm 1941 bởi các người cộng sản. Tướng Aris Velouchiotis chỉ huy quân đội nhân dân giải phóng quốc gia (ELAS) đã ra lịnh xử bắn lối 20 người lãnh đạo trốt-kít.Sau ngày giải phóng việc bắt cóc các người đãu tranh trốt-kít vẫn được tiếp diễn. Thườn thường họ bị tra tấn để phải khai báo và cho địa chỉ của các đồng chí của họ.

Năm 1946, trong bản phúc trình cho uỹ ban trung ương đảng cộng sản Vassilis Bartzistas đã nêu lên con số 600 người trốt-kít đã bị tồ chức OPLA ( tổ chức bảo vệ các cuộc đãu tranh bình dân) hạ sát. Trong con số 600 người này có thể gồm có người vô chính phủ (anarchistes) hay là các người xã hội ly khai ( các người Archéomarxistes, các người đãu tranh được tổ chức ngoái vòng lệ thuộc của đảng cộng sản Hy lạp và được thành lập từ năm 1924 , các người này cũng bị lùng bắt và ám sát.

Các người cộng sản của nước Albanie cũng không bị bỏ sót. Sau khi đã được thống nhất vào năm 1941, các nhóm tả huynh đã tụ tập chung quanhAnastaste Loula, các nguồn bất đồng chính kiến đã diễn ra giữa các người trốt-kít với các người chính thống ( Enver Hoxha, Memet Chehu ) được sự cố vấn của các người cộng sản Yougoslaves. Trong năm 1943, Loula, đã bị hành quyết đơn giản. Sau nhiều cuộc toan tính mưu sát, Sadik Premtag, và các người lãnh đạo trốt-kít khác được sự ủng hộ của dân chúng đã trốn thoát qua nước Pháp ; tháng 5 năm 1951, ông là nạn nhân của một cuộc mưu sát khác do Djemal Chami tự ra tay, y là một cựu chiến binh của trung đoàn quốc tế và là người của sứ quán Albanie tại Pháp.

Bên Trung-Quốc, một phôi phai (embryon) của phong trào trốt kít được thành lập vào năm 1928 dưới quyền của Chen Duxiu, một người sáng lập và là thư ký của đảng cộng sản Trung-Quốc (viết tắt là PCC) và cùng với các người khác thi hành chung lý tưởng cộng sản. Trong lúc xảy ra chiến tranh với nước Nhựt, một phần các người trốt-kít đã gia nhập vào đội ngũ của Bát lộ quân của Quân đội nhân dân ( viết tắt là APL). Chính Mao Trạch Đông đã ra lịnh hành quyết các người theo phong trào trốt-kít và thanh toán các tiểu đoàn do các người trốt-kít chỉ huy.Sau khi cuộc nội chiến chấm dứt các người trốt-kít đã bị săn đuổi và giết chết. Số phận của những người này đến nay vẫn không được biết.

Ở Đông dương tình thế vào giai đoạn đầu lại khác. Các người trốt-kít thuộc nhóm tranh đãu và các người cộng sản cùng có đường lối chung, khởi đầu từ năm 1933. Ảnh hưởng của riêng nhóm trốt-kít ở về phía Nam nói riêng là mạnh. Năm 1937, theo một chỉ thị của Jacque Duclos cấm đảng cộng sản Đông dương tiếp tục cuộc hợp tác với các người trốt-kítthuộc nhóm tranh đãu. Trong những tháng sau cuộc đầu hàng của nước Nhật, một chi nhánh của nhóm trốt-kít Liên đoàn cộng-sản quốc tế đã tạo được một ảnh hưởng khá đủ để làm các người lãnh đạo cộng-sản lo ngại. Tháng 9 năm 1945, khi quân đội Anh đến Sài-gòn, Liên đoàn cộng-sản quốc tế ( tên viết tắc là LCJ ) đã kích Mật trận Việt minh ( mật trận dân chủ tranh đãu cho độc lập ) về việc đón tiếp ôn hòa đối với quân đội Anh. Ngày 14 tháng 9, Việt minh mở cuộc tấn công rộng lớn chống lại các cán bộ trốt-kít, nhưng những người này không trả đủa lại. Bị bắt giam, và phần lớn đã bị giết sau đó. Các toán võ trang của các người yêu nước trong số này có các người trốt-kít, sau khi đã chiến đãu chống lại quân đội Anh, Pháp, họ đã rút vào Đồng Tháp Mười và bị các toán võ trang của Việt-minh đè nát . Qua đến giai đoạn hai : Việt minh quay trở lại chống các người trốt-kít, thuộc nhóm tranh đãu, những người bị bắt giam ở gần Bến súc đã bị giết khi quân đội Pháp tiến đến gần nơi đây. Bị bắt sau đó, ông Tạ Thu-Thâu, người lãnh đạo lịch sữ của phong trào đã bị giết vào tháng 2 năm 1946 . Chính Hồ Chí Minh đã viết : Các người trốt-kít là các người phản bội, và là các tên gián điệp đê hèn .

Ở nước Tiệp-khắc ( Tchécoslavaquie ), định mệnh của Zavis Kalandra đã tượng trưng riêng cho ông số phận của tất cả các đồng chí của ông. Năm 1936, Kalandra đã bị trục xuất ra khỏi đảng cộng-sản Tiệp ( PCT ), vì ông đã viết một cuốn sách tố cáo các vụ xử án ở Moscou. Tham gia vào kháng chiến ông đã bị quân đội Đức bắt giam và đưa đi ở trại Oranienbourg. Ông sống sót và khi chiến tranh chấm dứt, ông được hồi hương. Tháng 11 năm 1949 ông bị bắt và bị buộc tội đã lãnh đạo một cuộc âm mưu lật đổ nền cộng hòa. Ông đã bị tra tấn. Phiên tòa xử ông được diễn ra vào tháng 6 năm 1950 ; tại phiên tòa này, ông đã làm bản tự kiểm thảo ( autocritique ). Ngày 8 tháng 6 năm 1950 ông bị tuyên án tữ hình. Trong nhựt báo Trận chiến ( Le Combat ) số ra ngày 14 tháng 6 năm 1950, André Breton, đã nói với Paul Eluard can thiệp cho một người mà cả hai đều biết từ trước chiến tranh. Eluard đã trả lời : Tôi làm đã quá nhiều cho các người vô tội, các người vô tội này đã kêu gào sự vô tội của mình và trước các người thủ phạm họ đã kêu gào sự phạm tội của họ. Zavis Kalandra đã bị hành quyết ngày 27 tháng 6 cùng với 3 đồng chí của ông.

Các người chống phát xít và các người cách mạng ngoại quốc, nạn nhân của các cuộc khủng bố ở Liên bang Sô-viết

Tồ chức Komintern, với việc tàn sát các người trốt-kít cùng với các người cộng-sản ly-khai không phải là việc duy nhứt mà tổ chức này đã hành động. Vào các năm của thập niên 1930, ở trên lãnh thổ Liên Bang Sô Viết có một số đông người ngoại quốc đã sinh sống ở đây dù họ không phải là cộng-sản, nhưng đã bị lôi cuốn vào ảo ảnh sô-viết . Rất nhiều người ngoại quốc này đã trả giá quá cao về việc mất tự do và thường bị mất mạng vì việc đam mê của họ đối với đất nước của người sô-viết.

Vào đầu các năm 1930, các người sô-viết đã mở một cuộc tuyên truyền ở trong vùngCarélie, vùng này nằm trong vùng cận biên giới Phần lan và Liên bang Sô-viết, một sự tuyên truyền cho sự xây dựng chủ nghĩa xã hội để lôi cuốn các người dân. đã có 12000 người dân Phần lan cộng thêm với 5000 người dân Phần lan sống trên đất Hoa-kỳ , phần đông là hội viên (ở Hoa-kỳ) ; vì họ gặp quá nhiều khó khăn trong cuộc khủng hoảng kinh tế vào năm 1930 như thất nghiệp, không nhà ở v.v. . . Cơn sốt Carelie đã mạnh hơn khi các nhân viên của tổ chức thương mãi sô-viết tên là Amtorg đã hứa với họ là họ sẽ có việc làm với đòng lương cao, nhà ở và các cuộc du lịch không tốn tiền từ New York về Léningrad. Họ được nhắn nhũ là hảy đem tất cả những gỉ họ có.

Cuộc đua nhau đi về ảo tưởng (ruée vers l utopie), theo định nghỉa của Ains Küinen, đã biến thành cơn ác mộng. Khi họ đi đến nơi, các máy móc công nghệ của họ cùng với các tài sản, các tiền để tiết kiệm của các người dân di cư này đều bị tịch thu ( việc như vậy đã tái diễn đối với các Việt kiều từ Thái lan và Tân Calédonie, hồi hương về miền Bắc vào các năm đầu của thập niên 1960 ). Các giấy thông hành của họ đều bị giử lại và họ bị đưa về cácvùng kém mở mang và bị giữ lại như các người tù sống ở các vùng mà chung quanh toàn là rừng và các điều kiện sinh sống rất là cực khổ ( lời người dịch : hình thức Kinh Tế Mới mà Cộng sản Việt nam đã áp dụng cho dân tộc Việt nam sau 30 tháng 4 năm 1975 ). Theo sự nhận định của Arvo Tuominen người lãnh đạo đảng cộng sản Phần Lan và được bầu vào thành viên dự khuyết của chủ tịch đoàn ủy ban hành pháp của tổ chức Komintern cho đến cuối năm 1939, sau bị kết án tữ hình và y đã xin xét lại án, còn giảm xuống 10 năm tù giam ; hơn nửa đã có trên hai chục ngàn người dân Phần Lan đã bị giam cầm trong các trại tập trung.

Bị cưởng bách phải sống ở vùng Kirovakan, Aino Kuusinen đã chứng kiến sau đệ nhị thế chiến, lúc các người Amnien, nạn nhân của các cuộc tuyên truyền khéo léo của các cơ quan tuyên truyền sô-viết , các người này đã chấp nhận đến định cư ở cộng hòa sô-viết Aménie. Đáp lời kêu gọi của Staline, kêu gọi các người dân gốc Nga đang sống ở ngoại quốc hảy trở về Liên Bang Sô-viết . Các người Aménien, dù là họ đã di cư sống trên đất của Turquie, họ được động viên để trở về vùng đất của cộng hòa Arménie mà trong trí tưởng tượng của họ là vùng đất của tổ tiên của họ. Tháng 9 năm 1947, nhiều ngàn người đã tụ họp ở Marseille và chiếc tàu Rossia đã chở 3500 người về Liên Bang Sô-viết. Khi ấy đã có nhiều người hiểu ngày này là một chiếc bẩy ghê tởm ( piège odieux ) đã khép chặt vào họ và khi chiếc tàu này đã đi vào hải phận Nga, thái độ của các người cầm quyền sô-viết thay đổi hoàn toàn. Vào năm 1948, hai trăm người Arménien đã biểu tình ở thủ đô Erevan khi vị ngoại trưởng Pháp tên Christian Pineau thăm viếng nơi đây. Chỉ có 60 gia đình được phép đi khỏi lãnh thổ Liên Bang Sô-viết ; trong khi ấycuộc đàn áp đã diễn ra vào những người còn bị ở lại.

Cuộc khủng hoảng không những áp đặt lên các người tự nguyện đến Liên bang Sô-viết mà luôn cả các người đã phải đến đây để tìm chổ dung thân vì bị cưởng bách bởi các chế độ độc tài tại đất nước của họ. Theo điều 129 của bản hiến pháp Sô-viết : Liên Bang Sô-viết ban cho quyền ẩn náo ( droit d asile ) cho tất cả các người công dân ngoại quốc đã bị truy tố vì đã bảo vệ quyền lợi của các công nhơn, hay là vì các hoạt động của họ về lĩnh vực khoa học, hoặc vì do cuộc đãu tranh của họ cho nền độc lập quốc-gia . Trong cuốn tiểu thuyết của Vassili Grossman tựa đề là : Cuộc sống và định mệnh , ông đã đưa ra một hài kịch về sự đối đầu giữa một quân nhơn SS của Hitler và một người đãu tranh bôn sê-vít là tù nhơn của tên lính SS. Trong một cuộc độc thoại ( monologue ) dài, tên lính SS đã phát biểu một bản án của định mệnh cho hàng chục ngàn người gồm đàn ông, đàn bà, lão ông, lão bà và các thiếu nhi họ đã đến Liên Bang Sô-Viết để tìm chổ trú ẩn ; và sau đây là bản án : Ai đã ở trong các trại trong thời gian hòa bình, khi không có các tù nhơn vì chiến tranh. Tại các trại này người ta đã gặp các người được gọi là kẻ thù của đảng, kẻ thù của nhân dân. Đây là một loại mà anh được biết rỏ, đó là các người trong trại của anh. Và nếu trong thời gian hòa bình, các trại của anh nằm trong chế độ SS, chúng tôi sẽ không để các tù nhơn này ra đi. Các người tù nhơn của các anh là các người tù nhơn của chúng tôi .

Dù họ từ ngoại quốc đến theo lời kêu gọi của chính phủ của các người Sô-Viết , hay là họ tìm nơi an toàn mà họ đã không tìm được ở đất nước của họ vì các việc tham gia vào chính trị, tất cả các người di cư này vẫn bị coi là có thể trở thành một lực lượng gián điệp ( potentiels espions) Đó là lý do thường được ghi trên các bản xử án.
Một trong những cuộc di cư quá sớm của các người chống phát xít gốc Italie, diễn ra vào các năm giữa thập niên 1920. Một số trong những người này họ tưởng rằng đã tìm thấy xứ sở của xã-hội chủ-nghĩa xã-hội là nơi ẩn náo các giấc mộng của họ. Họ đã bị thất vọng chua cay, và họ đã bị khũng bố. Các người cộng-sản Italie và các người cảm tình của Liên Bang Sô-Viết vào giữa các năm của thập niên 1930, lên đến khoảng 600 người : .. khoảng 250 người là cán bộ chính trị di cư và 350 người là các học viêntheo học trong 3 trường đào tạo về chính trị. Rất nhiều học viên này đã rời Liên Bang Sô-Viết sau khi đã thụ huấn xong và 100 người đãu tranh đã tham gia chiến đãu ở Espagne trong cuộc nội chiến 1936-1937, cuộc đại khủng bố đã giáng xuống các người còn ở lại. Khoảng 200 người Italie đã bị bắt giam và bị khép vào tội làm gián điệp ; khoảng 40 người đã bị xử bắn và người ta biết rõ lý lịch của các người này ; các người khác bị gởi đi các Goulog hoặc là các mõ khai thác vàng ở Kolyma hay ở vùng Kazahstan. Romols Caccavale đã viết một quyễn sách rất cảm động, đã kễ lại hành trình và định mệnh thê thãm của cả chục người đãu tranh.

Một ví dụ tronh các ví dụ : Nazareno Scarioli, một người chống Phát-xít đã trốn ra khỏi nước Italie vào năm 1923, và từ đó anh đã đi Berlin rồi qua Moscou. Được phân bộ của Cứu tế đỏ - secours rouge đón tiếp, anh kiếm được việc làm ở một tổ hợp canh nông ở vùng Moscou trong vòng một năm. Sau anh được thuyên chuyễn đi Yalta và làm việc trong một tổ hợp có 20 người Italie thuộc nhóm vô chính phủ dưới sự hướng dẫn của Tito Scarselli. Đến năm 1933 tổ hợp này bị giải tán, anh Scarioli trở về Moscou và tìm được việc làm ở trong một xưởng sản xuất bánh biscuit. Anh đã tham gia các hoạt động của cộng đòng người Italie , ..Ròi đến các năm xảy ra cuộc đại thanh trừng (a grande Purge) ; sự sợ hải và sự khủng bố đã làm tan rã cộng đòng người Italie ; mỗi người đều có sự nghi ngờ đối với các đòng hương (compariote). Người cộng sản chịu trách nhiệm tên Paolo Robotti đã thông báo cho câu lạc bộ việc bắt giam 36 người di cư bị coi là kẻ thù của nhân dân, các người này làm việc trong một xưỡng chế tạo ổ bi (roulements à billes). Robotti đã bắt buộc cử tọa phải chấp nhận việc này đối với các người thợ mà y đã biết rõ. Lúc dơ tay lên để tán thành, Scarioli đã không đồng ý.

Ngày hôm sau anh đã bị bắt giam. Ở trong nhà tù Lioubianca y đã bị tra tấn và đã ký một bản thú tội. Bị đưa đi đày ở Kolyma, anh ta đã làm việc trong mỏ khai thác vàng. Nhiều người Italie khác cũng đồng chung một số phận như anh và có nhiều người đã chết. .. nhà điêu khắc Arnoldo Silva, kỹ sư Cerquetti, người lãnh đạo cộng-sản Aldo Gorellimà người em gái là vợ của .. về sau này là dân biểu công sản Siloto, cựu thư ký chi bộ cộng sản thành phố Rome, tên là Vincenzo Bazala ; người ở Toseau tên Otello Gaggi đang làm người gác cửa ở Moscou ; người thành viên nghiệp đoàn ở Venise tên Carlo Costa làm thợ ở Odessa và Edmundo Peluzo đã từng quen biết Lenine khi ông này còn ở Zurich. Năm 1950 Scarioli, lúc ấy chỉ còn 36 kilo được phép rời khỏi Kolyma nhưng vẫn còn là người nô lệ của chế độ Sô-Viết , bị bắt buộc làm việc ở Sibérie. Chỉ đến năm 1954 anh mới được ân xá và phục hồi danh dự, và anh phải đợi hơn 6 năm nữa mới được cấp chiếu kháng để trở về Italie với một hưu bổng nhỏ nhoi.

Sau khi đã thanh trừng xong các phần tử mà đã bị Staline nghi ngờ là chống lại ông trong ủy ban trung ương của tổ chức Komintern, ông quay sang tiếp tục thanh trừng các phân bộ của Quốc tế cộng sản . Phân bộ đầu tiên được ông chiếu cố đến là phân bộ của Đảng cộng sản Đức. Cộng đồng người Đức sống trên đất Nga gồm có : (ngoại trừ các người mang quốc tịch Nga) mà nguồn gốc là hậu duệ của các người dân Đức, đã di cư sang vùng sông Volga, theo lời kêu gọi của hoàng tử Catherine II vào thế kỹ thứ 18, các người của Đảng cộng sản Đức KDP, các người chống phát-xít tị nạn ở Ngavà các người công dân của nền cộng hòa Weimar họ đã tình nguyện sang Nga để xây dựng chủ nghĩa xã-hội . Tất cả các đùc tính thuộc loại này đã không có một hiệu năng nào có thể bảo vệ họ khi mà lhỏi điểm của các cuộc bắt giam đã diễn ra vào năm 1933. Tổng số là 2/3 các người Đức chống Phát xít di cư sang Nga là nạn nhân của các cuộc đàn áp.

Còn về số phận của các người lãnh tụ Đảng cộng sản Đức, sốphận của ho đã được định đoạt trên các danh sách có tên là : Kaderlisten do các lãnh tụ của họ là Wilhelm Pieck, Herbert Welner và Wilhelm Florin đồng chịu trách nhiệm lập nên danh sách này dùng để khai trừ hay là hành quyết các Đảng viên. Danh sách đầu tiên đề ngày 3 tháng 9 năm 1936, và danh sách chót đề ngày 21 tháng 6 năm 1938. Sau chiến tranh Đảng cộng sản ở Đông Đức đổi tên là Đảng xã hội thống nhất SDE, đã cho lập một ủy ban kiểm soát về các bản danh sách của Kaderlisten và đã thông báo có con số là 1.136 người. Vào năm 1937 con số các người bị bắt giam lên đến 619 người và tiếp tục cho đến năm 1941 thêm 21 người. Người ta không biết số hơn phân nửa số phận của củ các người bị tù đài này ( trong số 666 người bị án ). : có lẽ họ đã chết trong lúc bị đưa đi đày hay đã chết ở các trại giam cưỡng bách lao động. Được biết rở là đã có 82 người bị hành quyết, 197 người đã chết vì bị tra tấn hoặc là ở trong các khám đường và 132 người đã bị giao trả lại cho công an của nước Đức vào thời bấy giờ là cơ quan Gestapo. Còn lại 150 người khác đã bị kết án tù rất là nặng, và họ đã sóng sót, sau khi đã ở số năm bi kết án và họ được rời đất Nga. Một trong các lý do buộc tội các người này là họ đã thất bại trong các hành động chống lại cuộc thắng bầu cữ để cho Hitler lên nắm chính quyền và để chủ nghỉa Quốc Xã đã thành công trên đất Đức. Giai đoạn thê thảm và tệ hại nhất đã xảy ra khi mà Staline đã tở ra thái độ vô liêm sĩ thái quá ; đó là việc ông chuyển giao cho Hitler các người chống Phát xít. Từ đầu năm 1937, các người cầm quyền sô viết đã quyết định trục xuất các người dân Đức này ra khỏi đất Nga. Ngày 16 tháng 2, mười người được biết tên sau đây : Emil Larisch một chuyên viên sinh sống tại Nga từ năm 1921, Arthur Thils kỹ sư sang Nga vào năm 1931, Kurt Nixdorf giáo sư đại học phục vụ ở học viện Mars-Engel và Wilhelm Pfeiffer người cộng sản. Họ bị bắt từ năm 1936 với tội trạng là làm gián điệp và có các hoạt động thân phát xít , và đại sứ của Đức quốc là Von Schulenburg đã can thiệp cho họ với bộ ngoại giao sô viết, thời đó do Maxime Litvinov lãnh đạo. Lúc giải giao cho công an Đức, Pfeiffer đã mưu toan tự tữ sau khi xin được trục xuất sang nước Anh bị thất bại vì y biết chắc chắn rằng nếu về đến Đức thì y sẽ bị giết. Sau 18 tháng bị giam cầm, họ bị giải lao qua biên giới Nga-Balan và từ đó không có ai biết rõ được số phận của họ ra sao. Trong lúc di chuyển xuyên qua nước Balan để đến nước Đức, khi đi qua Varsovie, Arthur thils đã may mắn chạy thoát vào tòa đại sứ Anh quốc để xin tị nạn chính trị.

Các người khác đã không có được sự may mắn này. Otts Walther làm nghề in trên thạch bản và cư ngụ ở Léningrad từ năm 1908, khi bị đưa về đến Berlin ngày 4 tháng 3 năm 1937, và tạm trú ở một trung tâm tiếp cư, ông này đã nhảy lầu qua cửa sổ để tự tữ. Cuối tháng 5 năm 1937, đại sứ Von Schulenburg đã chuyển giao cho nhà cầm quyền sô viết, hai danh sách người Đức bị bắt giam và mong là họ sẽ bị trục xuất ra khỏi nước Nga. Trong số các tên nơi hai danh sách này có tên nhiều người chống Phát xít và Kurt Nixdorf. Các cuộc thương lượng được diễn ra dưới một thể thức mới : các người so viết chấp thuận việc trục xuất các người Đưc theo lời yêu cầu của tòa đại sứ Đức ( một số là 37 người đã bị trục xuất rồi). Trong 2 tháng, tháng 11 và tháng 12 năm 1937 một số là 148 người Đức đã bị trục xuất ; và trong năm 1938 có thêm 445 người bị trục xuất. Bị giải giao đến biên giới các nước Balan và Lettonie, có khi từ Finland những người bị trục xuất này - trong số này có các người Áo thuộc Schutzbünder - họ liền bị các người đại diện cho nước Đức kiểm soát họ. Trong trường hợp của Paul Meisel, người cộng sản Áo bị trục xuất, y bị giải đến biên giới nước Áo vào tháng 5 năm 1938 và giao cho cơ quan Gestapo. Là người Áo, y bị đưa vào trại Auschwitz và biệt tích luôn từ đó .

Việc thông đồng cực tốt giữa nước Đức quốc xã và nước Nga sô viết đã báo trước về bản thỏa ước Sô viết - Quốc xả được ký kết vào mùa thu năm 1939 và đã nói lên thực chất của việc hội tụ nơi các chế độ độc tài ( nhận sét của Lorge Semprun.) Sau khi thỏa ước được ký kết, việc trục xuất các người dân Đức đã diễn ra trong các điều kiện thê thảm hơn. Sau khi đã đánh bại nước Balan do Hitler và Staline, hai cường quốc này đã có một biên giới chung và có thể đưa các người bị trục xuất từ các khám đường sọ-viết qua thẳng các khám đường Đức quốc xã. Từ năm 1939 đến năm 1941 đã có từ 200 đến 300 người cộng sản Đức đã được giải giao cho cơ quan Gestapo, để cho người đồng minh mới ( sô viết ) được dịp chứng tở thiện chí của mình.

Ngày 27 tháng 11 năm 1939, một thỏa ước mới được hai bên ký kết. Từ tháng 11 năm 1939 đến tháng 5 năm 1941 khoảng 350 người đã bị trục xuất trong số này có 85 người Áo. Trong số người này có Franz Koristchoner, một trong những người sáng lập ra Đảng cộng sản Áo, và sau đã là cán bộ của tổ chức quốc tế công đoàn đở ; sau khi bị đưa đi đày ở miền cực Bắc, ông bị giải giao cho cơ quan Gestapo, được giải về Vienna, ông bị tra tấn và hành quyết ở Auschwitz ngày 7 tháng 6 năm 1941. Các nhà cầm quyền sô viết bất chấp việc các người bị trục xuất là gốc Do Thái ( họ thi hành chính sách : tao muốn giết nhưng sợ mang tiếng ác, giải giao cho bọn Quốc xã, sớm muộn gì nó cũng giết chết như thế sẽ tạo thêm sự căm thù với bọ Đức quốc xã). Nhạc trưởng và sáng tác nhạc Hans Walter David, người Do Thái và Đảng viên KDP đã bị giải giao cho cơ quan Gestapo và bị giết trong phòng hơi ngạc vào tháng 6 năm 1942 tại trại Madjanek ; cùng nhiều trường hợp khác : Nhà vật lý học Alexandre Weissberg đã sống sót và đã viết hồi ký. Người vợ của Heinz Neumann, người đã bị khai trừ ra khỏi ban lãnh đạo của KDP và đã di cư qua Nga, tên là Magarete Buber-Neumann đã là chứng Nhân và đã tố cáo việc thông đòng giữa So viết và Đức quốc xã. Sau khi bị đưa đi lưu đày ở Karaganda thuộc vùng Sibérie, bà cùng các người vô phước khác đã bị giải giao cho cơ quan Gestapo vào tháng 2 năm 1940. Cuộc trao đổi này đã khiến bà bị giam ở trại giam Ravenbruck. Bà Neumann đã thuật lại trong quyển hồi ký của bà như sau :

Chuyện xảy ra trên cầu Brest-Litovsk

Ngày 31 tháng 12 năm 1939, người ta đã gọi chúng tôi thức dậy vào lúc 6 giờ sáng, sau khi bận quần áo và cạo râu, chúng tôi ngồi chờ đợi một vài giờ trong một căn phòng. Cùng với chúng tôi có một người Hung gia lợi gốc Do Thái, ngưòi này tên Bloch, y đã trốn qua Đức sau cuộc thất bại của công xã 1919. Nhờ dùng giấy tờ giả mạo, y đã sinh sống ở Đức với giấy tờ giả mạo này và tiếp tục hoạt động cho Đảng. Về sau y cũng di cư sang Nga, và vẫn dùng giấy tờ giã mạo. Y đã bị bắt và mặc dầu đã phản đối liên tục, y vẩn bị giải giao cho cơ quan Gestapo. Trong đêm 31 tháng 12 qua sáng 1 tháng giêng năm 1940, đoàn xe lửa vẫn tiếp tục chạy, chuyến tàu này đã đưa trở về đất Đức 70 người chiến bại. Đi xuyên qua nước Ba lan bị tàn phá vì chiến tranh, chúng tôi tiếp tục đi về thành phố Brest-Litovsk. Trên chiếc cầu tên Bug chúng tôi đợi các nhân viên của chế độ độc tài của Âu-châu, đó là cơ quan Gestapo.

Alexandre Weissberg trong chuyến di chuyển này đã đào thoát được. Ông này đã liền gia nhập vào đội ngũ kháng chiến người Balan và cùng chiến đãu với các người này. Sau khi chiến tranh chấm dứt, ông đã vượt thoát qua nước Suède, Thụy điễn và sau ông qua nước Anh. Trong quyễn hồi ký của ông và của bà Neumann với tựa đề : Tôi tố cáo, nhà xuất bản Fasquella 1953, Ông viết Có ba người đã từ chối đi qua cầu : một thầy giáo người Đức mà tôi quên mất tên, một ngưới thợ tên Bloch người Hung gia lợi, và một người Do Thái. Họ đã bị dùng sức mạnh lôi qua cầu. Các người lính SS đã nổi cơn phẩn nộ và họ trúc lên đầu người Do Thái. Chúng tôi được chuyển lên một đoàn xe lửa khác và đưa về Lublin ...., tại đây cơ quan Gestapo tiếp quản chúng tôi và chúng tôi biết thêm rằng khi cơ quan NKVD giao chúng tôi cho những người lính SS quốc xã, họ cũng giao luôn tất cả hồ sơ cá nhân của chúng tôi. Vì vậy trong hồ sơ với tên thiệt của tôi, còn có ghi tôi là vợ của lãnh tụ cộng sản Neumann và chồng tôi là người bị nhũng người Đức quốc xã khinh ghét nhất .

Bà Magarete Buber-Neumann đã là Nhân chứng và lời tố cáo trên. Bà đã khai trước tòa án , Nhân vụ xữ án của Lettres françaises chống lại (kiện) Kravchenko, phiên xữ thứ 14. Bản ghi chép tốc ký đăng trên báo La Jeune Parque 1949 - Bà Magarete Buber-Neumann bị cơ quan NKVD bắt đưa đi đày ở Sibérie vào năm 1937. Sau bà bị giải giao cho các người quốc xã Đức và bị đưa đi giam ở trại tập trung Ravensbruck. Bà sống sót và được giải thoát vào năm 1945.

Cùng một lượt với các người cộng sản Đức, các người lãnh đạo của Đảng cộng sản Palestine, trong số này có một số người đã di cư trước khi xảy ra chiến tranh, cũng bị bộ máy khủng bố đớp (happer) luôn. Joseph Berger ( 1904-1978) cựu thơ ký của Đảng cộng sản Palestine (tên viết tắt PCP) từ năm 1929 đến năm 1931 , đã bị bắt giam ngày 27 tháng 2 năm 1935 và chỉ được trả tự do sau đại hội lần thứ 20 của Đảng cộng sản Sô viết vào năm 1956. Nhiều người lãnh tụ cộng sản khác đã bị hành quyết vào nhiều ngày khác nhau hay đã biến mất trong các trại cưỡng bách lao động. Ông Wolf Averbuch đã được làm giám đóc xưởng chế tạo máy kéo ở Rostsv trên sông Don, đã bị bắt giam vào năm 1936 và bị hành quyết vào năm 1941. Chính sách tiêu diệt có phương pháp các Đảng viên của PCP hay là các nhóm xã hội - Do Thái , những người này đã di cư sang Nga, chính sách này có liên lạc với chính sách Sô viết đối với thiểu số dân gốc Do Thái với việc thành lập vùng tự trị ở Birobidjan với các người chịu trách nhiệm đã bị tố cáo buộc tội kẻ thù của Nhân dân . Sau ông này, các nhà lãnh đạo của vùng tự trị này cũng bị khiển trách (réprimé). Samuel Augurskij (1884-1947) đã bị tố cáo là đã thuộc vào nhóm judéo-phát xít . Tất cả thành viên của phân bộ Do Thái của Đảng cộng sản Nga (tên Jewsekija) đều bị giải tán. Mục đích là phá bở các cơ cấu Do Thái trong lúc nhà nước Sô viết đang tìm sự giúp đở của tất cả các người Do Thái sinh sống ngoài đất Nga.

Một trong những nhóm chịu sự khủng bố khốc hại và nặng nề hơn mọi nhóm khác là nhóm các người cộng sản Balan. Trong các bản thống kê về các cuộc đàn áp, họ đứng vào hàng thứ hai sau các người Nga. Vì ở một hoàn cảnh đặc biệt, Đảng cộng sản Balan đã bị tuyên bố giải tán chính thức sau một cuộc biểu quyết mau chóng của (tổ chức Komintern), uỹ ban hành chánh trung ưöng ngày 16 tháng 8 năm 1938. Staline đã luôn luôn nghi ngờ Đảng cộng sản Balan (tên viết tắt KPP) là đã liên tục có nhiều khuynh hướng sai lạc và trật đường lối. Có nhiều người lãnh đạo của Đảng này đã là các người thân cận của Staline vào trước năm 1917 và đã sống lẫn lút ở nước Nga, không được một sự bảo vệ pháp lý nào cả. Năm 1923, KPP đã ngã theo phía Trotski. Trước khi Lénine qua đời, ban lãnh đạo đã chấp thuận một nghị quyết thuận lợi cho phái công nhân chống đối. Và sau đó đã theo khuynh hướng của người Lục Xâm Bảo (Luxembourgisime) và đã bị phê bình. Nhân kỳ đại hội 5 của tổ chức Komintern, Staline đã sa thảiban lãnh đạo lịch sữ của KPP - là Adolf Warski, Maximilian Walecki và Wera Kostrewa-Kochtchva - bước đầu tiên để nắm lấy quyền kiểm soát của tổ chức Komintern. Về sau KPP bị tố cáo là cái ổ của tổ chức Trốt-kít. Việc tóm tắt ngán ngủi này đã có thể giải thích riêng cho việc thanh trừng cấp tiến đối với nhiều vị lãnh tụ của Đảng này mà phần lớn là gốc Do Thái. Và cũng có vụ : Tổ chức quân sự Ba lan (tên viết tắt là POW) vào năm 1933. (xin xem phần đóng góp của Andrzej Pacj Paczkowski) Và cũng xin ghi nhớ yếu tố sau đây : chính sách của tổ chức Kominternlà bắt buộc phân bộ cộng sản Balan là phải làm suy yếu chính quyền quốc gia Balan để có lợi cho liên bang Sô viết và nước Đức. Có giả thuyết (hypo thèse) theo đó việc giải tán KPP đã do yếu tố của nhu cầu để sửa soạn việc ký kết thỏa ước Đức quốc xã và Nga Sô viết, giả thuyết này đáng được chú ý. Đường lối hành sự của Staline đáng được chú ý, với các lịnh và các chỉ thị của Komintern đã lần lượt ra lịnh cho các lãnh tụ cộng sản Ba lan, các người này ít lâu sau đó sẽ là các nạn nhân của các cuộc thanh trừng do Staline chủ xướng, lịnh triệu hồi họ trở về moscou và vì vậy gần như không có được một người nào thoát khỏi bị thanh trừng. Trong số người bị bắt giam chỉ có Wladyslaw Gomulka. Tháng 2 năm 1938 tờ báo Thơ tín quốc tế (Correspondance internationale) xuất bản mỗi tuần 2 số, dưới bút hiệu của J. Swiecicki đã viết bài tố cáo toàn thể các Đảng viên Đảng KPP.

Trong cuộc thanh trừng khỏi đầu từ tháng 6 năm 1937, người tổng thư ký tên Julian Lenski đã được triệu hồi sang moscou và biến mất từ đó. Mười hai người của ủy ban chấp hành trung ương cùng nhiều người lãnh tụ thuộc loại hai và hàng trăm Đảng viên bị thu tiêu. Việc thanh trừng lan tràn qua các Đảng viên đang chiến đãu ở trong đội ngủ của Trung đòan quốc tế (Brigade nationale) đang xung kích ở mật trận nội chiến Espagne : các chánh trị viên trung đòan Dombrowski, Kazimerz, Cichowski, và Gustav Reicher liền bị bắt khi trở về Moscou. Mãi đến năm 1942, vì nhu cầu chính trị để có tiếng nói chống lại ảnh hưởng của chính phủ Balan hợp pháp tị nạn tại Londre, khi ấy Staline mới cho lịnh tái thành lập lại Đảng cộng sản Balan dưới tên là Đảng Công nhân Balan (Parti ouvrier Blonais) viết tắt là PPR và Đảng này về sau là nồng cốt cho chính phủ Balan sau chiến tranh.
User avatar
TTL
 
Users Information Users Information
 

Offline

Re: Mật thư tội ác của chủ-nghĩa Cộng-sản - Le livre noir du...

Postby TTL » Sat Jan 12, 2008 2:02 am

Phần 2. Chương 17D

Cách mạng thế giới Nội chiến và khủng bố
Komintern được phát động và các hành động của cơ quan này



Tất cả các người tị nạn không phải là người cộng sản hay là các cảm tình viên, cùng với các người vô chính phủ , họ bị tìm bắt và đã chọn Liên Bang sô viết làm nơi tị nạn. Trường hợp mà nhiều người biết đến là của Francesco Gezzi, một người thuộc nghiệp đoàn tự do, anh đã đến Nga vào năm 1921, để đại diện cho Liên hiệp Nghiệp đoàn Italie bên cạnh tổ chức Nghiệp đoàn Quốc tế đỏ. Năm 1922, anh đã đi sang nước Đức và chính phủ Italie đã xin trục xuất anh vì tội khủng bố. Một cuộc vận động dư luận của dân chúng đã giúp anh tránh khỏi phải nếm mùi của nhà tù Italie nhưng anh phải bắt buộc trở lại nước Nga, vào mùa Thu năm 1924, vì đã dính líu với Pièrre Pascal và Nicolas Lazarévitch khiến anh đã có lôi thôi với cơ quan Guépou. Năm 1929 anh đã bị bắt giam và bị kết án 3 năm tù giam tại khám đường ở Souzdal, trong nhà ngục dành cho các tội đại hình mặc dầu anh đã bị bịnh ho lao ! Các bạn của anh và người thông tin đã tổ chức một cuộc vận động dư luận để giúp anh tại Pháp và Thụy sĩ. Trong lúc ban đầu Romain Rolland và các người khác đã gởi một bản thỉnh nguyện thư, chính quyền sô viết liền tung ra tin đòn anh là một người gián điệp của một tòa đại sứ phát xít . Được trả tự do vào năm 1931, anh Gezzi đi làm công nhân cho một xưởng máy, sang đến năm 1937 anh lại bị bắt lại. Lần này các người bạn của anh ở ngoại quốc không thể nào biết được tin tức và số phận của anh. Anh đã bị coi như bị giết chết vào cuối tháng 8 năm 1941 ở Vorkouta.

Vào ngày 11 tháng 2 năm 1934 ở Linz, các người trách nhiệm của Schutzbund, liên minh ( ligue) để bảo vệ chế độ cộng hòa của đảng xã hội Áo Autriche, đã quyết định chống lại mọi cuộc tấn công của Heimwehren. Vệ binh ái quốc, nhằm cấm đảng xã hội hoạt đông, có ai có thể tưởng tượng được số phận của các đồng bạn của họ.
Việc gây sự của các vệ binh ái quốc Heimwehren ở Linz đã buộc các người xã hội dân chủ phát động một cuộc tổng đình công rồi đưa đến một cuộc dấy loạn. Lãnh tụ Dollfus của đảng Thiên chúa xã hội và đồng thời là chưởng ấn ( chancelier ) hay là Thủ tướng ở Áo và Đức, sau 4 ngày chiến đãu đẩm máu đã nắm lại được tình thế, các người xã hội người nào chạy thoát không bị vào các khám đường hay các trại tập trung thì đã trở thành hoạt động bí mật hay trốn qua nước Tiệp khắc và sau đó tiếp tục đi chiến đãu ở Espagne trong cuộc nội chiến. Một số người đã quyết định tị nạn ở Liên bang sô viết và bị lôi cuốn bởi một cuộc tuyên truyền liên tục, từ đó khiến họ đã chống lại các người lãnh đạo xã hội dân chủ. Ngày 23 tháng 4 năm 1934, ba trăm người đã đến đất Nga và liên tục kéo thêm một số người nữa cho đến tháng 12 năm 1934. Tòa đại sứ Đức quốc đã biết được con số là 807 người Schutzbündler đã di cư qua Liên bang sô viết cùng với gia đình đã lên đến gần 1400 người đến xin tị nạn tại Liên bang sô viết.

Đoàn người đầu tiên đến Moscou đã được các người có trách nhiệm của đảng cộng sản Áo ( PKO ) đón tiếp và các người chiến sĩ này đã tuần hành trên đường phố ở Moscou. Họ được Ủy ban trung ương các nghiệp đoàn đảm nhiệm việc ăn ở . Một trăm hai chục các em thiếu nhi mà người cha đã chết hay bị kết án tử hình được gởi đi Crimée, sau được đưa về nhà số 6, cho các trẻ em được thành lập riêng cho các em.

Sau vài tuần lễ nghỉ ngơi, các người thợ được phân phối đi làm ở các công xưởng tại Moscou ; Kharkov, Leningrad, Gorki hay Rostov. Chẳng bao lâu họ bị thất vọng (déchanter ) về các điều kiện sinh sống mà họ đã phải bị cưỡng bách chịu đựng, các người cộng sản Áo phải can thiệp. Chính quyền làm áp lực với họ để họ phải xin vào quốc tịch sô viết. Ba trăm người trong số người làm việc này đã xin vào quốc tịch sô viết. Ngược lại, nhiều nhóm người toàn diện đã liên lạc với tòa đại sứ Áo với hy vọng là sẽ được hồi hương về Áo. Theo tin tức của tòa đại sứ Đức quốc thì có một số là 400 người đã được trở về nước họ cho đến mùa xuân 1938. ( Sau biến cố Anschluss vào tháng 3 năm 1938, người dân Áo trở thành thuộc dân ( sujet ) của Reich Đức. Một trăm sáu chục người còn ở lại nước Nga đã đi qua nước Espagne để tham gia vào cuộc nội chiến trong hàng ngũ cộng hòa.

Rất nhiều người đã không có cái may mắn để rời khỏi Liên Bang sô viết. Người ta đã được biết con số 278 người Áo đã bị bắt giam trong khoảng thời gian từ năm 1934 cho đế năm 1938. Vào năm 1938, Karls Stajner đã gặp ở Norilsk một người dân của thành phố Vienna tên là Fritz Koppensteiner và từ đó về sau không còn ai biết đến tin tức của người này nữa. Có người bị hành quyết như Gustl Deutch, đã từng chiến đãu ở quận Floridsdorf và cựu chỉ huy trung đoàn Karl Marx mà các người sô viết đã cho xuất bản một cuốn sách : Các trận đánh ở Floridsdorf ( sách xuất bản năm 1934 ). Còn về số phận của nhà trẻ em số 6 cũng không được chừa ra. Mùa Thu năm 1936, việc bắt giam các người hay cha mẹ còn sống sót, đã bắt đầu diễn ra. Các người con của họ được đưa qua sống dưới quyền kiểm soát của cơ quan NKVD, và cơ quan này phân phối các trẻ em đi các viện cô nhi. Ba Mẹ của cậu Wolfgang Leonhart đã bị bắt giam và biệt tích vào tháng 10 năm 1936, mãi đến mùa Hè năm 1937, cậu này mới nhận được một bưu thiếp từ cộng hòa Komis của Mẹ cậu gởi cho cậu. Bà này đã bị kết án 5 năm giam ở trại vì các hoạt động phản cách mạng trốt kít .

Cuộc phiêu lưu bi thảm của gia đình Sladek

Tờ báo xã hội Arberter Zeitung số ra ngày 10 tháng 2 năm 1963 đã đăng truyện của gia đình Sladek. Vảo trung tuần tháng 9 năm 1934, bà Sladek cùng với 2 người con đã đi Kharkov để gặp lại người chồng là Josef Sladek, một cựu Schutzbündler là một nhân viên hỏa xa ở Semmering sang Liên Bang sô viết xin tị nạn. Bắt đầu từ năm 1937, cơ quan NKVD khởi sự các cuộc bắt giam trong cộng đồng các người dân Áo ở Kharkov, rồi sau đó đến Moscou và Léningrad. đến lượt Josef Sladek bị bắt giam ngày 15 tháng 2 năm 1938. Đến năm 1941 trước khi quân đội Đức xâm lăng vào nước Nga, bà Slaked đã đến sứ quán Đức quốc để xin được hồi hương.

Ngày 26 tháng 7, cơ quan NKVD đã bắt giam bà và người con trai lúc ấy đã được 16 tuổi còn đùa con trai 8 tuổi tên Victor thì được gởi đi vào một trại cô nhi thuộc cơ quan NKVD. Các nhân viên NKVD đã đánh đập Alfred và để khủng bố tinh thần cậu này đã nói là mẹ của cậu đã bị xử bắn hầu đạt được một bản cung khai thú tội. Họ được di tản vì cuộc tiến công của quân đội Đức Quốc Xã, và một sự tình cờ hai mẹ con đã gặp lại nhau ở trại Ivdel trong vùng Dural. Bà Sladek đã bị kết án 5 năm giam ở trại vì tội làm gián điệp và Alfred cũng bị kết án 10 năm tù giam vì tội làm gián điệp và khuấy rối chống lại sô viết. Được chuyển qua trại Ở Sarma, họ đã gặp lại Josef Sladek đã bị kết án 5 năm tù giam lúc còn ở Kharkov. Và chả bao lâu, họ lại bị chia rẽ. Được phóng thích vào năm 1946, bà Sladek đã bị cưỡng bách cư trú tại Solikansk ở trong vùng Dural và một năm sau chồng của bà đã được phép đến ở cùng bà. Ông này đã bị bịnh ho lao và tim suy nên không thể làm việc được. Ông phải đi ăn xin để sông và đã chết ngày ngày 31 tháng 5 năm 1948. Đến năm 1951 Alferd được phóng thích và gặp lại mẹ của cậu. Đến năm 1954, sau nhiều lần chạy chọt ( démarche ) khó khăn, cả hai mẹ con mới trở về được Simmening Áo quốc. Hai mẹ con đã gặp lại cậu Victor một lần vào 7 năm về trước. Các tin tức cuối cùng mà họ nhận được về cậu Victor là vào năm 1946.

Vào năm 1917, các người Yougoslave sống ở Nga là 2600 và họ lựa chọn ở lại đây và sang đến năm 1924 con số các người này đã lên đến 3750 người. Họ được tăng thêm một số người đồng hương di cư sang từ Canada và Mỹ quốc đã theo lời kêu gọi của cơ quan tuyên truyền sô viết, lần này lại di cư sang Liên Bang sô viết với tất cả dụng cụ nghề nghiệp để xây dựng chủ nghĩa xã hội . Cộng đồng người Yougoslave đã ở rải rác khắp vùng đất từ Léninsk ở Magnitsgorsk và đi qua vùng Saratov. Một số người lối từ 50 đến 100 người đã tham gia vào việc xây dưng đường hầm cho xe métro ở Moscou. Giông như các sắc dân khác, các người công nhân Yougoslave cũng bị đàn áp. Anh Bozidor đã nói là anh đã chịu một số phận tàn ác và thêm vào : phần lớn các người công nhân đồng hương với anh đã bị bắt giam vào các năm 1937 1938 và số phận họ đã không biết ra sao ..?

Một sự nhận định chủ quan ( subjective ) đã được nuôi dưỡng bởi việc đã có nhiều trăm người di cư đã biến mất . Đến ngày hôm nay chưa có được các con số chính xác liên quan đến các người Yougoslave lao động ở Liên Bang sô viết và riêng về các người đã lao đông ở đường hầm xe métro ở Moscou vì họ đã phản đối các việc làm quá cực nhọc và họ bị đàn áp quá cứng rắn ( durement réprimés ).

Cuối năm 1939, cuộc phân chia nước Ba lan bị chiếm đóng, đã diễn ra giửa nước Đức Quốc Xã và nước Nga sô viết đã được bí mật thỏa thuận trước vào ngày 23 tháng 8 năm 1939, đã trở nên thực thụ. Hai nước Xâm lăng này đã phối hợp hành động của hai bên để thực hiện việc kiểm soát tình hình và dân chúng. : Hai cơ quan Gestapo và NKVD hợp tác với nhau. cộng đồng người Do Thái cũng bị phân chia : Trên số 3.300.000 người thì có 2.000.000 người sống ở những vùng quân Đức chiếm đóng và 1.300.000 người sống ở vùng Hồng quân. Các vụ ngược đãi người gốc Do Thái xảy ra liên tục, các giáo đường bị đót cháy, các vụ tàn sát diễn ra ; tiếp theo liên tục là việc giam nhốt vào các khu vực dành riêng cho người gốc Do Thái ( ghetto ). Khu vực Ghetto ở Lodz được thành lập ngày 30 tháng 4 năm 1940 và khu vực Varsovie tổ chức vào tháng 10 và đóng cửa ngày 15 tháng 11 năm 1940.

Trước sự tiến quân của Đức Quốc Xã đã có nhiều dân Ba Lan gốc Do Thái chạy trốn về hướng Đông. Trong mùa Đông 1939 1940, quân đội Đức Quốc Xã đã không tìm cách ngăn cản việc vượt biên mới. : đó là các lính biên phòng sô viết với huyền thoại giai cấp, họ trang phục với các áo choàng bằng lông và đội nón kết ( casquette )súng có gài lưỡi lê ( baissnnette ) , đã đón các người du mục đi về miền đất hứa này, với con mắt chó săn của cảnh sát cùng với các tràng đạn súng tiểu liên. Từ tháng 12 năm 1939 đến tháng 3 năm 1940 các người Do Thái này sông ở trong một vùng mà người ta gọi là vùng không có người ở ( no man sland ), rộng từ 1000 đến 1500 thước dài theo con sông Bug, ở về hướng Đông và họ đã phải ngũ ngoài trời. Một phần lớn các người này đành phải trở về vùng quân đội Đức Quốc Xã chiếm đóng.

Một người lính của đạo quân do tướng Anders tên L.C số quân 15015 đã là nhân chứng và đã tiết lộ về tình cảnh không thể tưởng tượng được : Vùng đất này có diện tích lối 600 mét và 700 mét và tại đây đã có từ 700 đến 800 người tụ họp từ vài tuần lễ ; 90 phần trăm là người gốc Do Thái họ đã vượt thoát được sự kiểm soát của người Đức. Vì bị ướt do các cơn mưa của mùa Thu, không nơi trú ẩn chúng tôi tất cả đều đau ốm. Chúng tôi đã ôm lấy nhau để cho đở lạnh, các người sô viết nhân đạo không đoái hoài gì đến chúng tôi và không hề cho chúng tôi một mẫu bánh mì hay một ít nước nóng. Họ cũng cấm các người nông dân ở trong vùng này, đến gần chúng tôi vì các người nông dân này xót thương chúng tôi ; họ muốn làm một cái gì để chúng tôi còn được sống còn. Kết quả chúng tôi để lại một số mã trên khoảng đất này. Tôi quả quyết là các người đã trở về vùng của Đức Quốc Xã chiếm đóng là họ có lý, vì cơ quan NKVD ( với một cái nhìn không ở một khía cạnh nào ) đã giỏi hơn cơ quan Gestapo vì cơ quan này đã thâu ngắn thời gian dể giết người. Ngược lại cơ quan NKVD giết người và tra tấn một cách còn ác độc hơn cái chết và đưa đến việc là người nào thoát khỏi nanh vuốt của cơ quan này là một phép lạ ; nhưng nếu còn sống sót thì đều trở thành phế nhơn. Được tượng trưng Israẽl Joshua Singer đã đặt người anh hùng của ông, trở nên một kẻ thù của nhơn dân và đã chết ở tại vùng đất không người ở ( no man sland ) này khi tìm cách trốn khỏi Lãnh thổ Liên Bang sô viết. Vào tháng 3 năm 1940, nhiều trăm ngàn người tị nạn, có một người nào đó đã nói ra con số là sáu trăm ngàn người, đã bị bắt buộc phải nhận một giấy thông hành của sô viết. Các thỏa hiệp Đức Nga đã dự phòng việc trao đổi các người tị nạn. Các gia đình bị ly tán, sự thiếu hụtlương thực công với các việc khủng bố của cơ quan NKVD, càng ngày càng nặng nề hơn ; một số người đã quyết định trở về vùng người Đức chiếm đóng của nước Ba Lan. Ông Jules Margo line, vào mùa Xuân năm 1940, đã hiện diện tại tỉnh LVDV thuộc vùng phía Tây Ukraine đã nói : Các người gốc Do Thái thích các khu vực Ghetto của Đức hơn sự bình đẳng của So Viết . Họ tưởng tượng là có thể rời khỏi vùng cai trị của Chính quyền Đức Quốc Xã được dể dàng hơn là trốn tránh qua ngã của Liên Bang sô viết để đến một nước Trung Lập.

Đầu năm 1940, việc đưa đi lưu đày các người công nhân Ba Lan khởi đầu ( xin tham khảo các đóng góp của Andrzej Packowski ) và tiếp tục đến tháng sáu. Tất cả các người dân Ba Lan của mọi khuynh hướng tôn giáo đều bị đưa lên vùng Bắc bao la và vùng Kazakhstan bằng các đoản xe hỏa. Đoàn xe của Jules Margolin phải chạy 10 ngày mới đến vùng Mourmansk. Là một nhà quan sát tỉ mĩ kỹ lưởng về xã hội tập trung Ông đã viết : Việc khác biệt với các trại sô viết ở tất cảb mọi nơi giam cầm trên thế giới, đó không phải riêng về tầm rộng bao la, không thể tưởng tượng được cùng các điều kiện sinh sống chết người. Đó là nhu cầu nói láo không ngừng để tự bảo vệ lấy sự sống còn của mình, nói láo luôn luôn, đeo một cái mặt nạ ( masque ) trong nhiều năm và không bao giờ có thể nói ra các tư tưởng của mình.

Vì vậy việc nói láo và việc tự giấu diếm hay giả vờ đã trở thành cách thức duy nhất để tự bảo vệ. Các cuộc mít ting, các cuộc gặp gở, các tờ báo dán ở trên các bức tường đều dùng các câu chính thức êm dịu và không một câu nào về sự thật. Tại nước Nga sô viết, người công nhân tự do củbng bị bắt buộc phải nói láo. Con người ở phương Tây khó có thể hiểu được ý nghĩa của sự cấm đoán các quyền và trong hoàn cảnh không thể được. Trong 5 hay 10 năm, có thể nói ra tự do, cho đến tận cùng ( jusqu au bout ) của sự bắt buộc phải đè nén các tư tưởng bất hợp pháp ( pensée illégale ) và phải câm như nằm ở trong một cái mã ( tombe ). Dưới sức ép không thể tưởng tượng được, tất cả đều bị biến dạng, méo mó và làm tan rã thể chất của con người.

Cái chết của các người tù nhơn số 41 và 42

Là thành viên của văn phòng công nhân xã hội Quốc tế, Victor Alter sanh năm 1890, là Thẩm phán phó thị xã trưởng ở Varsovie ; ông đã từng giữ chức chủ tịch của Liên đoàn các nghiệp đoàn Do thái. Ông Henryk Erlich là nhân viên của hội đồng xã ở Varsovie và là chủ nhiệm của nhật báo tiếng Yçish Folkstaytung. Cả hai dều là đảng viên của đảng xã hội Do Thái của Ba lan. Tên đảng gọi là Bund. Năm 1939 họ dều tị nạn qua vùng Hòng quân sô viết chiếm đóng. Alter bị bắt giam vào ngày 26 tháng 9 tại Kowel, còn về phần Erlich đã bị bắt giam vào ngày ngày 4 tháng 10 tại Brest_Litovsk. Được giải về nhà giam Loubianha ở Moscou, ông alter đã bị kết án tử hình ngày 20 tháng 7 năm 1941 với tội danh là đã có các hoạt động chống sô viết ( ông đã bị tố cáo là đã điều khiển các hành động bất hợp pháp của đảng Bund ở Liên Bang sô viết và đã liên lạcvới an ninh Ba lan. Bản án này đã do tập đoàn quân sự của Tòa án tối cao của Liên Bang sô viết tuyên án và sau khi xét lại ông bị án 10 năm giam cầm ở các trại tập trung. Ngày 2 tháng 8, Erlich bị tòa án quân sự của các lực lượng võ trang của cơ quan NKVD ở Saratov tuyên án tử hình ; ngày 27 tháng 8, án này được giảm xuống còn 10 năm giam cầm ở các trại tập trung. Được phóng thích vào tháng 9 năm 1941 theo thỏa ước của Sikorski Maĩski , Alter và Erlich đã được Béria đòi đến trình diện, và đề nghị hai người này cổ võ cho Ủy ban Do Thái chống lại các người Quốc xã ( nazis ) và hai người này đồng chấp thuận. Trước sự tiến quân của Đức, hai người này rút lui về Kouibychev và lại bị bắt giam trở lại vào ngày 4 tháng 12 và bị buộc tội đã liên lạc với các người Nazi !

Béria ra lịnh giam họ dưới bí số 41 ( Alter ) và 42 ( Erlich ) và không ai được biết căn cước của hai người này. Ngày 23 tháng 12 năm 1941, hai người này bị coi như là công dân sô viết, họ bị kết án tử hình vì đã phạm tội phản bội. Trong những tuần lể sau đó, họ đã gởi nhiều đơn xin lên các người có quyền, nhưng vô hiệu quả và hai người này cũng không được biết là mình đã bị án xử tử . Ngày 15 tháng 5 năm 1942, Erlich đã tự treo cổ mình lên các cây song sắt ở trong xà lim nhà giam. Đến khi mở hồ sơ của ông, người ta vẫn tưởng là ông bị hành quyết.

Victor Alter đe doa sẽ tự sát. Bérin ra lịnh tăng cường việc kiểm soát. Victor Alter đã bị hành quyết ngày 17 tháng 2 năm 1943. Bản án ngày 23 tháng 12 năm 1941đã được Staline đích thân duyệt y . Đáng chú ý là việc hành quyết ông này đã diễn ra vào một thời gian ngắn sau cuộc thắng trận ở Stalingrad. Cộng thêm với việc ám sát ông Victor Alter còn thêm sự vu khống : Alter và Erlich đã tuyên truyền cho việc ký kết một hòa ước với nước Đức Quốc Xã.

( Tài liệu trích từ văn khố của cơ quan NKVD đăng trên nguyệt san East European Jewish Affairs số 2 mùa Đông năm 1992 )

Vào mùa Đông 1945 1946, bác sĩ Jacques Pat, thư ký của Ủy ban các công nhân gốc Do Thái ở Mỹ quốc đã nhận nhiệm vụ đi sang nước Ba lan để mở một cuộc điều tra về các tội ác của các người Nazi. Khi trở về Mỹ, ông đã cho đăng một loạt bài trên tờ báo Jewish Daily Forward viết về số phận các người Do Thái tị nạn ở Liên Bang sô viết. Ông đã ước lượng là đã có 400 000 người đã chết vì bị đưa đi lưu đày, ở trong các trại cưỡng bách lao động hay là ở các tổ lao động. Vào lúc chiến tranh chấm dứt, 150 000 người này khi đã được đi vưoọt qua khỏi biên giới Ba lan _ sô viết không bao giờ nói đến nữa tổ quốc xã hội Chủ nghĩa Liên Bang sô viết, chế độ độc tài và dân chủ nơi này. Đối với họ các cuộc tranh luận đã chấm dứt và câu nói chót của họ : là chạy trốn khỏi nơi này , Bác sĩ Jacques Pat đã hỏi hàng trăm người này.

Các người tù binh sô viết bị cưỡng bách trở về nước

Nếu ai có liên lạc với người nước ngoài, hay là vì nhu cầu gì cần phải liên lạc với các người của nước ngoài hay là một ai từ nước ngoài đến URSS là trở thành một người đến chế độ. Bị bắt làm tù binh và đã sống 4 năm khỏi lãnh thổ quốc gia đã khiến cho các người quân nhân Nga bị lính Đức bắt làm tù binh lại trở thành một con người đáng chịu một hình phạt. Đạo luật số 270 của năm 1942 đã thay đổi điều 193 củ bộ hình luật, được coi là một người tù binh bị quân thù bắt được là ( ipro facto ) là một người phản bội. Không đếm xỉa gì đến hoàn cảnh bị bắt và việc bị giam cầm đã diễn ra, việc bị giam cầm đối với các tù binh Nga thật là đáng ghê sợ. Các người Slaves bị coi là hạng người thấp kém ( sous homme ) và số phận của họ đã được quyết định là họ sẽ phải biến mất ( disparaître ) theo như Weltans Chaung của chủ nghĩa quốc xã Nazi vì vậy trong số 5.700.000 tù binh Nga bị bắt vì chiến tranh, đã có 3.300.000 người đã chết vì bị ngược đãi và chết đói, cùng với các chứng bịnh mà không được săn sóc.

Vì vậy theo lời yêu cầu rất sớm của các đồng minh, mà Staline đã quyết định cho hồi hương tất cảcác người Nga đang ở trên các phần đất ở về phía Tây. Các nước đồng minh rất lấy làm bối rối về vấn đề nuôi ăn số quá đông tù binh Nga bị quân đội Đức Wehmacht bắt. Việc này được giải quyết rất mau. Cuối tháng 10 năm 1944 cho đến tháng Giêng năm 1945 đã có 332.000 tù binh người Nga ( trong số này có 1.179 người từ San Francisco ) đã được đưa trả trở về dù chưa có sự chấp thuậ của URSS. Không những các nhà Ngoại giao Anh và Mỹ đã vô tình ( aucun état d âme ) mà đề cập đến vấn đề này với một lượng tính vô liêm sĩ mà họ không biết, như ngoại trưởng Anthony Eden đã nói phải dùng đến sức mạnh để giải quyết vấn đề này.

Trong lúc diễn ra các cuộc thương nghị ở Yalta từ ngày 5 đến 12 tháng 2 năm 1945, cả ba thủ lãnh ( sô viết Anh Mỹ ) đã ký kết các thỏa ước bí mật bao gồm các quân nhân cùng các người thường dân đã bị di chuyển vì chiến tranh.Churchill và Eden đã chấp nhận để Staline quyết định số phận các người tù binh đã chịu gia nhập và chiến đãu trong hàng ngủ của đạo quân Nga giải phóng ROA do tướng Vlassov chỉ huy và mong là các người này sẽ được hưởng một sự xử án công bằng và được bảo đãm.
Staline biết rỏ là một phần các người bị bắt làm tù binh là do sự rối loạn về tổ chức trong lúc mới xảy ra chiến tranh, xảy ra trong lúc các đội ngũ của Hòng quân mà Staline là người đầu tiên phải chịu trách nhiệm, về sự thiếu khả năng của các vị tướng và của chính Staline. Và có một điều là các người quân nhân này đã không muốn chiến đãu để bảo vệ một chế độ ghê tởm ( exécré ) này và đã nhắc lại một câu diễn tả của Lénine : đã bầu với đôi chân ( a voté avec leurs pieds ).

Sau khi hiệp đînhYalta được ký kết, không có một tuần nào mà lại không có các đoàn tàu, rời các đảo của Anh quốc để chở trả về nước Nga các người tù vì chiến tranh. Trong hai tháng 5 và 6 năm 1945, có tất cả là 1.300.000 người đã được đưa hồi hương luôn cả các người thường dân đang cư ngụ trong các vùng chiếm đóng mà Moscou coi là các công dân sô viết, gồm luôn các người Ukraine và 3 nước ở ven biển Baltique. Cuối tháng 8 năm 1945 đã giải giao 2 triệu người cho các người sô viết, và đã có rất nhiều trường hợp dử tợn thường xảy ra : các việc tự sát cá nhân và nhiều khi có các vụ tự sát tập thể (toàn thể một gia đình ) và luôn cả việc tự hủy hoại thân thể để trở nên tàn phế ; các người tù binh kháng cự lại một cách thụ động và các người Anh Mỹ đã không ngần ngại dùng sức mạnh để đàn áp các người tù binh này hầu để đáp ứng các sự đòi hỏi của các người sô viết. Khi đến nơi, các người hồi hương được đặt dưới sự canh gác của các toán công an chính trị. Trong ngày chiếc tàu Almanzora đến bến Odessa, vào ngày 18 tháng 4 đã xảy ra các cuộc hành quyết đơn giản. Và màn ảnh này lại tái diễn khi chiếc tàu Empire Pride cặp bến tàu ở trong biển Hắc Hải ( Mer Noire ).

Các nước phương Tây lo ngại là URSS sẽ giữ làm con tin các tù binh người Mỹ Anh Pháp và dùng các người tù binh này làm món hàng trao đổi, thái độ rất rõ ràng trong các khuynh hướng của họ trước các sự đòi hỏi tuyệt đối ( diktat ) của các người sô viết, bắt buộc phải đưa hồi hương tất cả các người dân Nga đã di cư sau cuộc cách mạng năm 1917. Chính sách này đã được các người ở phương Tây hiểu rỏ, dù có thỏa mản các sự đòi hỏi tuyệt đối của các người sô viết, vẫn không đạt được kết quả để làm dễ giải việc trở về của các người công dân của nước họ. Trái lại, nó còn cho phép một số người cán bộ sô viết được đi truy lùng các người ương ngạnh và các người cán bộ Nga đã hành động coi thường các luật lệ của các nước đồng minh.

Về phần nước Pháp, bản Thông báo của Bộ Tư Lịnh quân sự Pháp chiếm đóng nước Đức xác nhận là đến ngày 1 tháng 10 năm 1945 đã trả trở về cho các người sô viết Nga một số là 101.000 người đã bi chiến tranh di chuyển họ đi. Và luôn tại nước Pháp, Chính quyền đã cho thiết lập 70 trại để tiện việc tái tập họp lại (regrouper ) và được hưởng quyền bất xâm phạm như trại Beauregard ở tại vùng ngoại ô Paris, và trên các trại này Chính quyền đã từ khước làm các việc kiểm soát và đã chấp nhận cho các cán bộ của cơ quan NKVD hoạt động ở Pháp không bị trừng phạt ( impunité ), đã làm trái lại và mâu thuẩn với chủ quyền tối cao của quốc gia ( souveraineté nationale ).
Các người sô viết đã suy tính kỹ lưỡng và sâu sắc về các hành động đem những người có liên hệ với họ trở về nước, cùng với sự hổ trợ của đảng cộng sản Pháp, họ phát động một cuộc tuyên truyền khéo léo. Vào tháng 11 năm 1947 trại Beauregard đã xảy ra vụ xì căn đan ( scandale ) về việc bắt cóc các trẻ em của một gia đình đang ở trong tình trạng ly dị, ông Robert Wybot một công chức Pháp người đã chịu trách nhiệm về việc đóng cửa trại này đã tuyên bố : Theo các tin tình báo mà tôi có được, các trại tập họp này, nói nới đúng nghỉa hơn là các trại bắt cóc trẻ em . Các việc phản kháng về chính sách của người sô viết đã xảy ra quá trể và hiếm hoi. Mãi đến mùa Hè ( tháng 7 năm 7947 ) tờ nguyệt san xã hội Quần chúng ( la Masse ) mới đăng : Khi Gengis Khan Thánh Cát Tư Hản đã ra lịnh khép kín các biên giới của nước ông để các người nô lệ không thể chạy trốn được, đây là một chuyện dễ hiểu !, nhưng ông ấy lại có thêm một quyền trục xuất ra khỏi lãnh thổ của các nước khác ? Việc này nó vượt qua quá nhiều nền luân lý suy đồi của thời hậu chiến. Lãy quyền gì mà người ta bắt buộc con người phải sinh sống trong một nước mà sự nô lệ bản thân và luân thường được áp đặt ? Thế giới đang mong đợi gì ở nơi Staline, để rồi phải lặng câm trước các tiếng kêu than của các người công dân Nga, khi các người công dân này muốn tự sát hơn là bị cưỡng bách trở về đất nước của họ..

Các vị chủ nhiệm của nguyệt san nảy đã tố cáo các vụ trục xuất sau đây : Trước sự thờ ơ của quảng đại quần chúng đã khuyến khích việc xâm phạm các quyền xin ẩn trú ( droit asile ) các vị tư lịnh quân sự người Anh đóng tại nước Italie đã vi phạm một tội ác không thể nói được. Ngày 8 tháng 5, người ta đã đem ra khỏi trại số 7 ở tại Ruccioné 175 người Nga và cho họ biết rằng họ sẽ được đưa sang Tô Cách Lan ( Ecosse ), và cùng ngày họ cũng đem ra khỏi trại số 6 mười người ( trại này chỉ gồm có toàn phần là các gia đình ). Khi số 185 người này đã rời xa các trại, những quân nhân người Anh đã lục soát tất cả mọi người và tịch thu tất cả các đồ vật gì có thể dùng để tự sát, và sau đó, họ mới nói ra sự thật là tất cả các người này sẽ được đưa về nước Nga chớ không phải đi sang nước Tô Cách Lan ( Ecosse ).Cùng ngày này, người ta cũng đã đem đi 80 người thuộc dân gốc vùng Caucuse , lấy ra từ trại ở Pise. Tất cả các người xấu số này đã được đưa đi sang nước Áo, chở trên các toa xe lửa và do những người lính Anh canh giữ. Có một vài người toan tính chạy trốn nhưng đã bị các người lính Anh bắn chết.

Các người Nga hồi hương này đã bị tập trung vào các trại gọi là thanh lọc và kiểm soát ? Các trại này đã được thành lập từ năm 1941 và cũng ở cùng với các trại lao động và đã được sát nhập vào hệ thống các Goulag vào năm 1946. Trong vòng năm 1945 đã có 210 000 người tù bước qua ngưởng cửa của các trại này và các người tù này đã được hội nhấp vào các Goulag vào thời cao điểm của tổ chức này ; nói tổng quát chiếu theo điều luật số 58 1 b, họ đã bị tuyên án tập thể 6 năm tù giam ở các trại lao động. Trong số các người vô phước này có một số người đã tham gia vào lực lượng quân đội giải phóng người Nga và đã chiến đãu chống lại quân đội SS của Đức Quốc Xã để giải phóng thành phố Prague ở Tiệp Khắc ( Tchécolovaquie ).

Việc đối xử với các tù binh địch

Năm 1929 ? tại Genève có một cuộc họp và để ký một thỏa ước về các tù binh chiến tranh. Liên Bang sô viết URSS không có tham gia ký kết thỏa ước này. Trên lý thuyết thì các tù binh đều được bảo vệ tuy là nước của họ đã không có ký vào thỏa ước này. Nhưng Liên Bang sô viết không có đếm xỉa gì thỏa ước này và đối với họ là vô giá trị. Là nước thắng trận, URSS còn giam giữ từ 3 đến 4 triệu tù binh người Đức. Trong số các tù binh người Đức này, có một số người tù binh được quân đội Mỹ Anh Pháp đã phónh thích ; họ trở về quê hương của họ trong các vùng do Hồng quân Nga chiếm đóng, họ đã bị bắt trở lại và bị đưa đi lưu đày ở các trại lao động trong nước Nga.

Đến tháng 3 năm 1947, ngoại trưởng Nga Viatcheslav Molstov đã tuyên bố là đã có một triệu người Đức được hồi hương, ( đúng số là 1.003.000 người ) và còn lại một số là 890.532 người còn bị quản thúc ở nước Nga. Con số này đã bị bác bỏ. Đến tháng 3 năm 1950 ? Liên Bang sô viết tuyên bố là việc hồi hương các tù binh đã hoàn tất. Tuy vậy, các tổ chức nhân đạo đã báo cáo là còn lại một số là 300.000 tù binh còn bị giam giử lại cùng với 100.000 người thường dân. Ngày 8 tháng 5 năm 1940, chính phủ Lục Xâm Bảo ( Luxembourg ) phản kháng việc chấm dứt hồi hương và đóng cửa các trại vì còn có 2000 công dân của họ vẫn còn bị giữ lại trên đất Nga. Việc giữ lại các thông tin về số phận các tù binh đã có dụng ý là che dấu các sự thật đáng buồn về định mệnh của các tù binh ? Người ta liền nhỉ đến con số tử vong của các người tù binh trong các trại giam.

Một Ủy ban đặc biệt, mang tên Machke ước lượng rằng đã có 1.000.000 người tù binh Đức đã bị Hồng quân Nga bắt sau trận chiến thắng ở Stalingrad, chỉ còn có 6000 người sống sót được trả về. Bên cạnh hay là cùng với các người tù binh người Đức cũng có 60000 người tù binh người Italie đã sống sót vào tháng 2 năm 1947 ( con số 80000 người cũng được đưa ra. chính phủ Italie đã công bố là đến ngày tháng kể trên, chỉ có 12513 người tù binh Italie được phóng thích và được đưa trả trở về nước Italie. Và phải tính thêm vào số tù binh người Hongrie và Roumanie, chiến đãu với quân đội Đức quốc xã trên mặt trận Nga cũng chịu chung một số phận. Tháng 3 năm 1954, một trăm người tình nguyện Espagne thuộc sư đoàn AZUL chiến đãu với quân đội Đức quốc xã được phóng thích. Và với việc nhìn tổng quát về số tù binh địch sẽ còn thiếu sót nếu không nói đến số phận 900000 tù binh Nhựt trên bị bắt ở các mặt trận ở Mãn châu - Mandchouric vào những ngày cuối của đệ nhị thế chiến.

Thảm cảnh của những người mặc dầu chúng tôi hay Bất đắc dĩ Malgré nous

Ở trong các trại giam của cộng sản có một câu nói ( dicton ) đã diễn ra hoàn toàn về đa số các nguồn gốc của các sắc tộc mà trong toàn số dân của chế độ lao tù sô viết: Nếu nước nào không có người đại diện ở trong các Goulog, nước đó không có trên thế giới này . Nước Pháp cũng có một số người tù giam mà bộ Ngoại giao Pháp đã không tích cực để bảo vệ và phản kháng để hầu cho các người tù binh này được trở về Pháp.

Mùa Xuân năm 1940, quân đội Pháp đã xin ngưng chiến ( armistice ) ngày 17 tháng 6. Ba tỉnh Moselle Thượng vàHạ sông Rhin đã được các người Nazi ( Quốc xã ) đối xử một cách đặc biệt : Các vùng Alsace Loraine đã bị xát nhập vào lảnh thổ Đức quốc, bị Đức hóa và luôn Quốc xã hóa. Năm 1942, các người Quốc xã đã quyết định cưỡng bách các thanh niên ở tuổi quân dịch ( sinh từ các năm 1920 đến 1924 ) phải nhập ngủ vào quân đội Đức. Rất nhiều thanh niên là dân của các vùng Moselle và Alsace, không hề muốn phục vụ dưới lá cờ của Đức Quốc Xã và tìm mọi cách để trốn tránh cái việc này mà người Quốc Xã đã đặc cho cái tên Đặc quyền ( privilège ). Cho đến ngày chiến tranh chấm dứt, đã có tất cả 21 tuổi đã bị động viên ở vùng Alsace và 14 lớp tuổi đã bị động viên ở vùng Moselle. Tổng số là 130000 thanh niên đã bị cưỡng ép phải đi chiến đãu trên mật trận ở đất Nga. 22000 thanh niên này đã tử trận. Phong trào nước Pháp tự do của tướng De Gaulle đã thông báo tình trạng của các thanh niên bất đắc dỉ này ( les malgré nous ) cho các nhà cầm quyền quân sự sô viết để họ hiểu rỏ hoàn cảnh của các thanh niên này. Ở tại mật trận Nga, các người sô viết đã kêu gọi các thanh niên này hảy đào ngũ, hứa với họ là họ sẽ được đưa trả vào cho phong trào nước Pháp tự do hầu họ có thể chiến đãu chống lại quân đội Đức. Dù vậy và trong mọi trường hợp, đã có 23000 người lính bất đắc dĩ này đã bị bắt làm tù binh ; đó là con số mà mãi đến năm 1995 cơ quan của nước Nga ? đã trao các hồ sơ liên hệ cho chính phủ Pháp. Một số lớn các người lính bất đắc dĩ này được tập họp tại trại giam số 188 ở Tambov và đặc dưới sự canh gác của cơ quan MVD ( cựu NKVD ) với sự sống còn rất là kinh hoàng : thiếu ăn vì mỗi ngày được phát có 600 gờ ram bánh mì đen, lao động khổ sai trong càc khu rừng, chổ ở đơn sơ trong các căn nhà bằng gổ với phân nữa được chôn dưới đất và không có được hưởng một sự săn sóc y tế nào cả. Các người sống sót ở đây đã ước lượng là đã có 14000 người tử vong vào các năm 1944 và 1945. Ông Pierre Rigoulot đã cho xuất bản cuốn sách : : Thảm kịch của các người Bất Đắc Dĩ . Tambov trại giam người Pháp . Nhà xuất bản Denoel 1990, đã đưa ra con số 10000 người mất tích. Sau nhiều cuộc thương lượng lâu dài, 1500 người tù binh đã được trả tự do vào mùa hè năm 1944 và được chởb trả về Alger. Nếu Tambov là nơi có trại giam là một số lớn người dân Alsace Lorraine bị giam cầm, còn có nhiều trại giam khác ở nhiều nơi khác đã giam giữ nhiều người Pháp và tạo lên hình ảnh của các tiểu quần đảo đã cản trở các người Pháp này không chiến đãu được để giải phóng tổ quốc của họ.

Nội chiến và chiến tranh giải phóng Quốc gia

Khi hiệp ước Đức Quốc Xã và Liên Bang được ký kết, đó là việc làm và thời điểm mà các đảng cộng sản của các nước đã sụp đổ vì các đảng viên không chấp nhận chính sách chống phát xít bị bỏ rơi nhưng đến ngày 21 tháng 6 năm 1941 khi quân đội Đức Quốc Xã tấn công vào lãnh thổ Nga thì phản ứng chống phát xít được phát động liền trở lại liền. Ngày 23 tháng 6 tổ chức Komintern đã dùng đài phát thanh và đánh các điện tín cho các chi bộ của tổ chức này trên toàn thế giới và giải thích lúc này hảy xếp qua một bên các việc cách mạng xã hội mà là giờ đãu tranh chống lại phát xít và trận chiến để giải phóng quốc gia. Đồng thời, tổ chức Komintern đòi hỏi tất cả các nước cộng sản của các nước bị quân đội Đức chiếm đóng phải lập tức có các hành động võ trang. chiến tranh là một hình thức giúp cho đảng cộng sản có cơ hội để thử nghiệm một hành động mới : đãu tranh võ trang và phá hoại bộ máy chiến tranh của Hitler và tạo các điều kiện để phát triễn chiến tranh du kích.

Các bộ máy bán quân sự được tăng cường để tạo thành những người cán bộ của các toán võ trang cộng sản, và tùy theo từng nước hay tùy theo các địa hình ( géographie ) cùng các hoàn cảnh sẽ trở thành các tổ chức du kích đáng kể như ở Hy lạp Grèce và ở Nam tư Yougoslavie. Khởi đầu từ năm 1942 và đến năm 1943 ở Albanie và miền Bắc Italie vào cuối năm 1943. Nếu gặp trường hợp thuận lợi, các hoạt động của các tổ chức du kích sẽ cướp lấy Chính quyền không từ nan có thể xảy ra cuộc nội chiến.

Điển hình về Định hướng mới này là các việc đã diễn ra ở Yougoslavie. Từ mùa xuân năm 1941 Hiler đã phải gởi quân đội qua Hy lạp Grèce để cứu đồng minh của mình là Italie đang xa lầy tại đây vì phải đương đầu với một đạo quân nhỏ bé quyết chiến. Và đến tháng 4 năm 1941, Hitler đã phải gởi quân đội qua Yougoslavie và chính phủ thân Đức ở đây đã bị lật đổ bởi một cuộc đão chính của nhóm thân nước Anh. Ở tại hai nước này đã từng có các đảng cộng sản yếu ớt nhưng lại giàu kinh nghiệm, : Họ đã hoạt động trong vòng bí mật từ nhiều năm qua vì các chế độ độc tài của Stojadinovic và Metaxás đã cấm các đảng cộng sản hoạt động công khai.

Sau khi chính phủ Yougoslavie xin đình chiến, nước Yougoslavie đã bị chia cắt cho các nước Italie, Bulgarie và Đức. Thêm vào đó một cái gọi là nước Croatie độc lập đã do các người cực hữu nắm Chính quyền, các người được gọi là Outachi do Ante Paveclic lãnh đạo và đã thi hành chính sách kỳ thị đối với các người Serbe ; đưa đến các việc tàn sát các người Serbe rồi lan luôn qua các người Do Thái và Tziganes. Chủ trương không chấp nhận một sự đối lập nào đã khiến cho nhiều Croate tham gia vào cuộc kháng chiến. Ngày 18 tháng 4 năm 1941, sau khi quân đội Yougoslavie đã đầu hàng quân đội Đức, các người đầu tiên bỏ trốn vô rừng để tổ chức kháng chiến là các sĩ quan hoàng gia tập hợp chung quanh Đại tá Drazá Mihailovic và chẳng bao lâu sau ông được chỉ định là người chỉ huy kháng chiến Yougoslave, rồi trở thành Bộ trưởng Bộ chiến tranh của chính phủ hoàng gia Yougoslave lưu vong sang Anh. Chỉ sau khi quân Đức xâm lăng Liên Bang sô viết ngày 21 tháng 6 năm 1941, thì các người cộng sản mới quy tụ lại với sứ mạng mới là đãu tranh để giải phóng quốc gia khỏi ách phát xít nhưng chưa phát động cuộc cách mạng xã hội. Về phần Đại tá vừa được thăng lên tướng Mihailovic thì lo tổ chức tại vùng Serbie một quân đội toàn người Serbe và họ được đặc tên là Tchetniks. Trong lúc Moscou muốn vị nể càng lâu càng tốt nơi chính phủ hoành gia lưu vong Yougoslave để đừng làm các đòng minh người Anh lo ngại.
Lãnh tụ cộng sản Tito cãm thấy mình có đủ sức mạnh để hành động theo ý muốn và đường hướng của mình, từ chối sự đặt mình dưới sự tuân lệnh của chính phủ hợp pháp đang lưu vong. Không đặt vấn đề khác biệt sắc tộc trong việc tuyển mộ các chiến sĩ vì Tito là người thuộc sắc dân Croate, ông thiết lập các căn cứ du kích quân ở Bosnie. Trở thành các đối thủ, hai phong trào đòng phát triển các mục tiêu dối chọi nhau đã quay lại chống nhau. Để đối phó với các kỳ vọng của các người cộng sản, Mihailovic đã nương các người lính Đức và gần như đồng minh với các người Italie. Tình hình đã trở nên một sự hổn độn thật sự, trộn lẩn một sự chiến tranh giải phóng với một cuộc nội chiến, các sự đối chọi về chính trị cùng với hận thù sắc tộc đã tăng lên vì chịu sự chiếm đóng của một quân đội ngoại quốc. Đã xảy ra biết bao nhiêu cuộc tàn sát lẫn nhau do từ mọi phía, mà nơi đó mọi phía tìm cách tiêu diệt các đối thủ chính của mình hầu áp đặt được quyền lực lên dân chúng.

Các sử gia đã đưa ra con số một triệu người đã chết trên dân số mười sáu triệu cho toàn quốc. Bị hành quyết, tù binh bị sử bắn, các người bị thương cũng bị giết luôn và sự trả thù dưới mọi hình thức không hề ngưng và chuyện này đã trở nên dễ dàng vì nền văn hóa vùng Ba lan này là môi trường của sự nuôi dưởng việc chống đối các bộ lạc hay bè đảng. Nhưng có một sự khác biệt giữa các cuộc tàn sát do phe tchetnik và các cuộc tàn sát do các người cộng sản chủ trương : các người tchetnik họ chỉ chịu lịnh của bộ chỉ huy trung ương một cách lỏng lẽo và đã có nhiều nhóm đã không chịu sự kiểm soát của tướng Mihailovic đã chủ trương các cuộc tàn sát này trên tiêu chuẩn sắc tộc hơn là chính trị. Về phần các người cộng sản họ hành động theo các tiêu chuẩn quân sự và chính trị ; Milovan Djilas, một người phụ tá đắc lực của Tito, về sau đã biểu lộ : Chúng tôi rất lấy làm oán hận về các lý do vì sao các người nông dân đã ủng hộ các người tchetnik, họ nói họ sợ vì các nhà của họ sẽ bị đót hủy và sẽ phải chịu các sự trả thù khác. Vấn đề này đã được nêu lên trong một buổi họp với Tito, và lý lẽ sau đây đã được đưa ra : Chúng ta phải giải thích cho các người nông dân để họ hiểu là nếu họ ủng hộ các người xâm lăng trong đó có sự chen vào của các người tchetnik , các người kháng chiến thân hoàng gia và các người Đức xâm lăng, chúng ta cũng đót phá các nhà cửa của họ ; như vậy họ sẽ đổi lập trường. Sau cùng Tito đã quyết định dứt khoát : Thôi được thỉnh thoảng chúng ta cũng đốt phá một cái nhà hay một xóm làng . Về sau Tito cũng đã ra lịnh nằm trong chiều hướng này các lịnh này quyết định hơn vì nó đã được giải thích rõ ràng hơn.

Tháng chín năm 1943, nước Italie đầu hàng đồng minh. Thủ tướng Churchill quyết định viện trợ quân sự của đồng minh cho Tito thay vì cho Mihailovic, rồi đến việc Tito thành lập Hội đồng chống Phát xít và giải phóng quốc gia Yougoslavie (AVNOJ) vào tháng chạp năm 1943, các người cộng sản đã đạt được một thắng lợi về chính trị trên các đối thủ cũa họ. Cuối năm 1944 sang đầu năm 1945, các thân binh cộng sản đã sửa soạn để lan tràn và chiếm đóng toàn diện lãnh thổ của Yougoslavie. Khi quân lực Đức quốc xã sắp sừa đầu hàng Đồng minh, Pavelic và quân lực của ông, các người công chức cùng với gia đình, tổng cộng vài chục ngàn người, đã rút chạy về phía biên giới Áo quốc. Các Bạch quân người Slovène và những Tchetniks người Monténégrins đã cùng với những người lính của Croatie đã họp nhau tại Bleiburg, nơi đó họ đã đầu hàng quân lực Anh quốc và đồng bị giải giao cho Tito.

Các người lính, các người công an và cảnh sát đủ mọi loại đã bị cưỡng ép ra đi trên một khoảng đường dài vài trăm kí lô mét xuyên qua hết nước Yougoslavie và cuộc đi này được biết dưới tên là : hành trình của tử thần . Những người tù binh slovènes này được đưa về vùng Slovénie trong địa phận Kocevje và đã có khoảng hai hay ba chục ngàn người đã bị hạ sát. Là kẻ chiến bại, các người Tchetnik đã không tránh được sự trả thù của các thân binh cộng sản vì các người này khôbng bắt tù binh. Milovan Djilas đã nói lên giai đoạn cuối cùng của các người Serbes nhưng không giám tiết lộ các chi tiết thật sự của các hành động rùng rợn nơi cuộc hành quân cuối cùng này : Các người lính của Drazá ( Mihailovic) đã bị tiêu diệt một lúc cùng với các người lính Slovénie. Các toán nhỏ người Tchetniks họ chạy thoát được về vùng Monténégro sau cuộc bị đè nát này, đã thuật lại những sự việc rùng rợn đã xảy ra tại nơi đó. Không một ai dám nói lạitất cả các diễn biến đã xảy ra, dù là những người đã từng nêu cao tinh thần cách mạng. Và đó là sự kết thúc của một cơn ác mộng. Bị bắt, bị đem ra xử và bị tuyên án tử hình, Drazá Mihailovic đã bị xử bắn ngày 17 tháng 7 năm 1945. Trong lúc xử án, các vị sĩ quan đồng minh đã được biệt phái đến cố vấn ở bộ tham mưu của tướng Mihailovic và đã từng chiến đãu với vị tướng này chống lại quân đội Đức Quốc Xã, các lời chứng của các vị sĩ quan đồng minh để minh oan cho tướng Mihailovic đều bị tòa án bác bỏ. Sau chiến tranh trong một cuộc đàm thoại của Staline với Milovan Djilas ông đã bày tỏ căn bản triết lý của ông : Kẻ nào chiếm đoạt được một vùng lãnh thổ có quyền áp đặt chế độ xã hội của họ tại nơi đây.

Với cuộc đệ nhị thế chiến, các người cộng sản Hy lạp Grèce cũng đã ở cùng một trường hợp với các người đồng chí Yougoslave của họ. Ngày 2 tháng 11 năm 1940, sau vài ngày quân đội phát xít Italie đã xâm lăng nước Hy lạp, ông Nikos Zachariadis, thơ ký của đảng cộng sản Hy lạp viết tắt là KKE, bị cầm tù từ tháng 9 năm 1936 đã kêu gọi quân dân đứng lên kháng chiến : quốc gia Hy lạp ngày hôm nay đã đang chiến đãu trong một cuộc chiến tranh giải phóng quốc gia chống lại phát xít Loussolini.(...) Tất cả mọi người phải chiến đãu, mỗi người ở vị trí của mình . Nhưng qua ngày 7 tháng 12, một bản tuyên ngôn của Ủy Ban Trung Ương bí mật của đảng cộng sản đã nêu lên vấn đề của sự định hướng trong lời kêu gọi nơi Nikos Zachariadis và KKE vẩn giữ đường lối chính thức của tổ chức Komintern, đường lối chủ bại cách mạng. Ngày 22 tháng 6 năm 1941 diễn ra một cuộc trở mặt ngoạn mục : KKE ra lịnh cho tất cả đảng viên tổ chức một cuộc đãu tranh để bảo vệ Liên bang sô viết và lật đổ ách phát xít ngoại quốc .

Các kinh nghiệm đãu tranh và hoạt động trong bóng tối rất là quý cho các người cộng sản cùng các điều kiện thuận lợi. . Ngày 16 tháng 7 năm 1941, cũng như các đảng đảng cộng sản của các nước khác, họ đã thành lập Mật trận công nhân giải phóng quốc gia viết tắt là EEAM (Ergatiko Ethniko Apélevthériko Métopo ), và tập hợp được 3 tổ chức nghiệp đoàn. Đến ngày 27 tháng 9, được tổ chức thành một tổ chức khác tên là EAM ( Ethniko Apélevthériko Métopo). Mật trận quốc gia là cánh tay chính trị của đảng cộng sản. Đến ngày 10 tháng 2 năm 1942, lại thêm một tổ chức : Quân đội nhân dân giải phóng quốc gia, viết tắt là ELAS ( Ellinikos Laikos Apélevthérotikos Métopo ) và các tổ chức ở trong bưng đã được thành lập vào tháng 5 năm 1942, theo sáng kiến của Aris Velouchiotis ( và còn có tên khác là Thanassis Klaras ) một người đấu tranh có nhiều kinh nghiệm và y đã ký một tờ tuyên bố quy thuận để được ra khỏi khám đường. Và từ đó nhân số của ELAS tiếp tục gia tăng.

ELAS không phải là một tổ chức quân sự duy nhứt để kháng chiến. Còn có thêm tổ chức EDES ( Ethnikos Démokratikos Ellinikos Syndesmos) tên viết tắt của tổ chức đoàn kết quốc gia dân chủ Hy lạp đã do các nhân dân và thường dân cộng hòa, được tổ chức từ tháng 9 năm 1941 do một vị đại tá hồi hưu tên Napoléon Zervas, chỉ huy một nhóm du kích quân. Một tổ chức thứ ba được thành lập vào tháng 10 năm 1942 do đại tá Psarros chỉ huy, tên viết tắt là EKKA ( Ethniki Kai Koiniki Apélevthérosis) phong trào giải phóng xã hội và quốc gia. Mỗi một tổ chức đều mưu tính thu nhập các đoàn viên và các người đãu tranh thuộc các tổ chức khác.

Nhưng với các thành công và sức mạnh của tổ chức ELAS đã khiến cho các người cộng sản lạnh lùng mưu toan áp đặt bá quyền (hégémonie) lên toàn thể các người kháng chiến. Các căn cứ ở trong bưng ( maquis ) của tổ chức EDES đã bị tấn công nhiều lần cũng như các căn cứ của tổ chức EKKA, đã bắt buộc phải phân tán các lực lượng vũ trang của mình và chờ khi có dịp hành sự sẽ quy tụ lại. Cuối năm 1942, ở vùng phía Tây của Thessalie, dưới chân của các dãy núi Pinde, thiếu tá Kostopoulos, một người ly khai của tổ chức EAM và đại tá Safaris đã thành lập một đơn vị kháng chiến nằm trong trung tâm của một vùng mà tổ chức EAM đã thiết lập được ; tổ chức ELAS liền tung quân bao vây và tàn sát các chiến sĩ thuộc tổ chức EAM, các người chiến sĩ nào không chạy thoát được và từ chối tham gia vào đội ngũ của ELAS. Bị bắt làm tù binh, đại tá Safaris sau cũng đã đành chấp nhận trở thành vị tham mưu trưởng của tổ chức ELAS.

Sự hiện diện của các sĩ quan người Anh được phái đến để giúp đở các người kháng chiến đã làm cho các người chỉ huy tổ chức ELAS lo ngại ; các người cộng sản lo ngại là các người Anh sẽ bắt buộc họ phải phục hồi chế độ quân chủ. Trong khi ấy đã có hai thái độ khác nhau giửa ngành quân sự do Velouchiotis và KKE chính thống do Giorgos Siantos những người này tuân theo các chỉ thị của Moscou. một chính sách liên minh chống phát xít. Ac cuộc hành động của các quân nhân người Anh vào tháng 7 năm 1943, đạt được việc ba tổ chức kháng chiến ký với nhau một thỏa hiệp, vào lúc đó lực lượng ELAS có lối 18 ngàn người lính, lực lượng EDES có 5 ngàn lính và lực lượng có khoảng 1000 lính.

Tình hình ở tại đây thay đổi liền vào ngày 8 tháng 9 năm 1943 khi nước Italie ký giấy đầu hàng. Một trận chiến tranh huynh đệ tương tàn liền diễn ra ngay, trong khi đó quân đội Đức Quốc Xã đóng tại đây tấn công các vị trí của tổ chức EDES và bắt buộc các lực lượng của tổ chức này phải rút lui. Do đó, họ sẽ gặp phía trước mặt trên đường lui quân là các tiểu đoàn của tổ chức ELAS và các tiểu đoàn này tìm cách bao vây họ để tiêu diệt. quyết định thanh toán các lực lượng võ trang của EDES đã được ban chỉ đạo của đảng cộng sản KKE quyết định và họ mưu toan khai thác tình thế mới này hầu làm thất bại chính sách của người Anh. Sau bốn ngày đánh nhau, các chiến sĩ của Zervas đã phá vỡ vòng vây và tẩu thoát.

Cuộc nội chiến xảy ra trong lòng của cuộc chiến tranh giải phóng đã cho quân đội Đức nhiều cơ hội để hành quân, các quân đội Đức liên tục tấn công khi thì tổ chức kháng chiến này, lúc thì tổ chức các cuộc kháng chiến khác. Các nước đồng minh có sáng kiến quyết định chấm dứt cuộc nội chiến này : Các trận đánh giữa hai tổ chức ELAS và EDES được ngưng vào tháng 2 năm 1944 và một thỏa ước được ký kết ở Plaka, nhưng chỉ phù du ( éphémère) : vài tuần lễ sau các lực lượng của ELAS lại tấn công các lực lượng của EKKA do đại tá Psarroschỉ huy. Ông và các sĩ quan của ông đều bị tàn sát và riêng về phần ông thì bị chặt đầu. Các hành động của các người cộng sản đã đưa đến kết quả là làm mất tinh thần của các tổ kháng chiến và làm mất uy tín của EAM, cánh tay chính trị của đảng cộng sản ; trong nhiều vùng toàn thể dân chúng đều oán hận đối với các người cộng sản và thù hận đã đến độ sâu sắc khiến cho nhiều người kháng chiến đã bỏ ngũ, gia nhập vào các tiểu đoàn an ninh do người Đức thành lập. Cuộc nội chiến này chỉ chấm dứt khi tổ chức ELAS chịu tham gia và hợp tác với chính phủ hợp pháp lưu vong của Hy lạp ở Le Caire (Ai Cập). Tháng 9 năm 1944, sáu người đại diện cho EAM ELAS trở thành nhân viên của chính phủ đoàn kết quốc gia do ông Georges Papandréous lãnh đạo. Ngày 2 tháng 9 năm 1944, khi quân đội Đức Quốc Xã bắt đầu cuộc rút quân ra khỏi lãnh thổ Hy Lạp, tổ chức ELAS tiến quân để chiếm đóng vùng Péloponnèse nằm ngoài vùng kiểm soát của họ, vì có sự hiện diện của các tiểu đoàn an ninh của quân Đức để lại. Các thành phố và các làng mạc đã bị trừng phạt . Tại Meligala, một ngàn bốn trăm người gồm có nam, nữ và trẻ em đã bị tàn sát cùng với lối 50 người sĩ quan và hạ sĩ quan của các tiểu đoàn an ninh.

Hình như không có gì có thể làm chướng ngại vật cho bá quyền của EAM ELAS. Mặc dù thủ đô Athènes đã được giải phóng ngày 12 tháng 10 n nhưng đã thoát khỏi bá quyền của cộng sản vì quân lực của hoàng gia Anh đã đổ bộ lên vùng Pirée. Ban lãnh đạo KKE do dự không dám dùng sức mạnh chống lại quân lực Anh quốc. Họ toan tính chơi trò chính phủ liên hiệp ? Chả có gì có thể gọi là chắc chắn ? và họ đã từ chối giải ngũ các lực lượng võ trang thuộc ELAS, theo lời yêu cầu của chính phủ đoàn kết quốc gia, Iannis Zegvos, Bộ Trưởng Bộ Canh Nông là người cộng sản đã yêu cầu giải tán các đơn vị riêng đã tuân theo lịnh của chính phủ. Ngày 4 tháng 12 các đơn vị tuần tiểu thuộc Elas tiến vào Athènes và đã phải đụng đầu với các đơn vị quân đội của chính phủ. Ngày hôm sau, gần như tất cả thành phố Athènes đều nằm dưới sự kiểm soát của các đơn vị võ trang của tổ chức Elas vì họ đã huy động gần 20 000 người ; nhưng quân đội hoàng gia Anh đã chống cự lại mong đợi các viện binh được gởi đến. Ngày 18 tháng 12 các lực lượng Elas tấn công vào các vị trí đóng quân của lực lượng EDES ở vùng Épire. Song song với các trận đánh đang diễn ra các người cộng sản đã phát động một cuộc thanh trừng đẩm máu chống lại phe nhà vua.

Cuộc tấn công của cộng sản đã bị thất bại, và họ đành chịu miển cưỡng ký kết, trong một cuộc họp được diễn ra ởVarkiza, một thỏa ước ấn định việc giải giới các lực lượng võ trang thuộc tổ chức võ trang ELAS. Nhưng trên thực tế đã có rất nhiều súng và các vũ khí khác đã được bí mật chôn dấu. Aris Velouchiotis, một trong những người lãnh đạo đã từ chối không chấp nhận thỏa ước được ký kết ở Varkiza và đã chạy vào bưng cùng lối 100 người chiến sĩ thân tín của ông, rồi ông chạy sang ẩn náu ở nước Albanie, hy vọng sẽ trở lạbi chiến đãu vũ trang. Được hỏi ông về các lý do của cuộc thất bại nơi các tổ chức ELAM ELAS, Vélouchiotis đã thẳng thắng trả lời : Đó là việc chúng tôi đã giết một số quá ít các người. Các người Anh đã chú ý đến cái ngã tư này mà người ta gọi là nước Hy Lạp ; nếu chúng tôi không để một người bạn nào của người Anh sống sót, các người Anh không thể nào đổ bộ được ở một phần đất nào. Nhưng các người khác gọi tôi là tên giết người : và coi bây giờ tình hình đã đưa đẩy chúng tôi vào tình trạng này. Và ông thêm vào : Các cuộc cách mạng chỉ thành công khi nào các con sông đều nhộm đỏ máu đào và đáng công để làm đổ máu. Đó là phần thưởng cho việc thay đổi hoàn toàn xã hội loài người . Người sáng lập ra ELAS, Aris Velouchiotis đã bị giết chết vào tháng 6 năm 1945 trong một trận chiến đã xảy ra ở vùng Thessalie, vài ngày sau khi ông bị khai trừ ra khỏi tổ chức KKE của đảng cộng sản Hy Lạp . Cuộc thua trận của hai tổ chức ELAM ELAS đã giải thoát được các phản ứng, các mối oán thù chống lại các người cộng sản và các người đồng minh. Nhiều nhóm bán quân sự đã giết chết nhiều người tranh đãu ; các người lãnh đạo thì bị đưa đi lưu đày ra các hòn đảo nhỏ.

Tháng 5 năm 1945, Nikos Zachariadis, tổng thơ ký của đảng cộng sản Hy Lạp KKE từ trại Dachau ở Đức quốc, được quân đội đồng minh phóng thích trở về Hy Lạp. Các lời tuyên bố đầu tiên của ông đã phát biểu rõ ràng đường lối chính trị của KKE : Hoặc là chúng ta sống trở lại dưới chính sách độc tài còn ngặt nghèo hơn cả chế độ độc tài quân chủ phát xít hay là tiếp tục cuộc đấu tranh của EAM để giải phóng quốc gia để đạt được việc hình thành cho nước Hy Lạp một chính thể dân chủ nhân dân. Nước Hy Lạp đã đổ máu và bị tàn phá quá nhiều lại không có hy vọng sẽ được hưởng một cuộc hòa bình dân chính. Vào tháng 10 năm 1945, đại hội 7 của đảng cộng sản Hy Lạp đã chấp thuận các mục tiêu do Zachariadis đề ra. Giai đoạn đầu tiên là vận động để quân đội hoàng gia Anh quốc triệt thoái ra khỏi nước Hy Lạp. Tháng Giêng năm 1946, Liên Bang sô viết đã biểu lộ về các quyền lợi của họ ở Hy Lạp và đã kêu gọi Hội Đồng Bảo An của Liên Hiệp Quốc về các nguy cơ của sự hiện diện đóng quân của quân đội hoàng gia Anh tại nước này. Ngày 12 tháng 12, khi cuộc tổng tuyển cử để bầu các vị đại biểu thành lập quốc hội và cảm thấy sự thua phiếu và thất cử của đảng cộng sản, họ liền kêu gọi việc bỏ không tham dự ( abstention ), đảng KKE quyết định tổ chức một cuộc tổng nổi dậy với sự giúp đở của các người cộng sản Yougoslave.

Vào tháng chạp đã diễn ra một cuộc họp giữa các đảng viên cộng sản, của ủy ban trung ương KKE, với các viên sĩ quan yougoslave và bulgare. Các người cộng sản Hy Lạp đã được đảm bảo là họ có thể sử dụng lãnh thổ Albanie, Yougoslavie và Bulgarie làm hậu cứ. Trong 3 năm kế tiếp các chiến sĩ cộng sản đã có thể sử dụng các hậu cứ để ẩn náu, săn sóc các thương binh và dùng các vũ khí mà họ đã dự trử ở các hậu cứ này. Tất cả các cuộc chuẩn bị này đã bắt đầu vài tháng sau khi tổ chức Kominform ( tên viết tắt của Kommunist Information ) và sự kiện đã hiện ra rõ ràng là cuộc nổi dậy của các người cộng sản Hy Lạp là nằm trong chính sách mới của điện Kremlin. Ngày 30 tháng 3 năm 1946, đảng cộng sản Hy Lạp KKE đã đảm nhận trọng trách phát động cuộc nội chiến lần thứ ba. Các cuộc tấn công đầu tiên do các lực lượng võ trang mà họ tự gọi là quân đội dân chủ ( viết tắt là AD ). Được thành lập từ ngày 28 tháng 10 năm 1946 và do tướng Markos Vafiadis chỉ huy, đã được diễn ra theo các khuôn mẫu cũ, họ tấn công vào các đồn trại của quân cảnh, các người quân cảnh bị tàn sát cùng các vị thân hào. Suốt cả năm 1946, KKE liên tục hành động công khai !

Trong những tháng đầu năm 1947, tướng Markos gia tăng các cuộc hành quân : các làng xã bị tấn công đã gia tăng con số lên nhiều chục làng, cùng với hàng trăm người nông dân đã bị hành quyết. Quân sĩ của AD đã gia tăng, nhờ vào các việc cưỡng bách tòng quân xảy ra ở các nông thôn. Nếu có một đơn vị làng nào từ chối, không đáp ứng các đòi hỏi của AD, làng này phải chịu sự trả thù ; một ngôi làng ở Macédoine đã bị trả một giá quá cao : 48 ngôi nhà bị đốt, 12 người nam, sáu người nữ và 2 em bé bị hành quyết. Khởi đầu từ tháng 3 năm 1947, các vị chủ tịch các hội đồng xã lần lượt bị ám sát cùng với các vị linh mục. Và cũng vào tháng này số người tị nạn đã lên đến 400 000 người . Chính sách khủng bố đã khiến diễn ra chính sách chống khủng bố : các người thuộc các nhóm cực hữu đã giết hại các người tranh đãu cộng sản hay là thuộc tả phái.

Tháng 6 năm 1947, sau một cuộc đi thăm viếng các thủ đô Belgrade, Prague và Moscou, Zachariadis đã tuyên bố việc sẽ thành lập một chính phủ tự do . Các người cộng sản Hy Lạp tưởng là họ có thể tái sử dụng lại đường lối của TiTo đã sử dụng 4 năm về trước. Chính phủ tự do này được chính thức thành lập vào tháng 12. Các người Yougoslave đã cung cấp các chiến sĩ tình nguyện , gần 10 000 người ! lấy ra từ quân đội Yougoslave. Nhiều bản phúc trình điều tra Ủy ban Đặc biệt của Liên Hiệp Quốc cho các vùngBalkan đã nêu lên tầm quan trọng của cuộc viện trợ này cho Đạo Quân Dân Chủ AD Xảy ra việc tuyệt giao giữa Staline và TiTo vào mùa xuân năm 1948 đã đưa đến các hậu quả chính cho các người cộng sản Hy Lạp. Nếu các nguồn viện trợ vẩn tiếp tục được gởi đến các vùng biên giới cho đến mùa thu 1948, TiTo bắt đầu ra lịnh cho các người lính tình nguyện Yougoslave rút lui và đóng chặt biên giới. Đến mùa hè, các lực lượng của chính phủ Hy Lạp khởi sự tấn công rộng lớn, vị lãnh tụ cộng sản Albanie là Enver Hoxha, đã bắt buộc phải đóng chặt biên giới với Hy Lạp. Các người cộng sản Hy Lạp đã bị cô lập và các cuộc tranh chấp nội bộ và các niềm bất hòa bắt đầu diễn ra. Các trận chiến vẫn tiếp diễn cho đến mùa thu năm 1949. Một số các chiến sĩ cộng sản chạy sang ẩn náu ở Bulgarie và ở các nước Đông Âu, đặc biệt là ở nước Roumanie và tại Liên bang Sô Viết. Tachkent thủ đô của Ouzbékistan đã có cả chục ngàn người tị nạn trong số này có 7500 người cộng sản. Sau cuộc chiến bại, đảng KKE lưu vong, đã thi hành một loạt khai trừ , đến nỗi vào tháng 9 năm 1955 đã đưa đến một cuộc tranh chấp đã xảy ra giữa hai phe ủng hộ và chống đối Zachariadis và đưa đến các cuộc xung đột dữ dội ; quân đội sô viết đã phải can thiệp để tái lập lại trật tự và đã có hàng trăm người bị thương.

Cuộc đón tiếp các người chiến bại, của cuộc nội chiến Hy Lạp, ở Liên Bang Sô viết lại là một việc nghịch lý vì Staline vào thời điểm này đã phá hỦy cộng đồng người Hy Lạp sinh sống trên đất Nga từ nhiều thế kỷ, và đến năm 1917, đã được ước lượng khoảng từ 500 000 đến 700 000 người, phần lớn cư ngụ ở vùng Caucase và dọc theo ven bờ Hắc Hải. Đến năm 1939, cộng đồng người Hy Lạp chỉ còn có khoảng 410 000 người và sang đến năm 1960 con số này tuột xuống còn 177 000 người. Bắt đầu từ tháng Chạp năm 1937, Staline đã ra lịnh đưa đi lưu đày 285 000 người Hy Lạp sống ở các thành phố lớn đã bị đưa đi về các vùng Arkhangelsk, về vùng thuộc Cộng Hòa Komis và về vùng Tây Bắc Sibérie. Có nhiều người khác đã trở về Hy Lạp. Và đã cùng vào thời điểm này các ông A. Haitas, cựu thơ ký của đảng cộng sản Hy Lạp ( KKE ) và nhà sư phạm J. Jordinis đã bị thủ tiêu ở URSS. Năm 1944, mười ngàn người Hy Lạp sinh sống ở vùng Crimée đã bị tố cáo là đã có các hành động thân người Đức trong thời gian chiến tranh, và là các người sống sót của cộng đồng Hy Lạp ngày xưa, đã bị đưa đi lưu đày ở cộng hòa Kazakhstan. Và đến thánh 4 năm 1940 tất cả các người Hy Lạp đang sinh sống ở Batoum cũng phải chịu chung một số phận.

Ở các nước thuộc về phương Tây của Âu Châu ( được gọi tắt là Tây Âu ), các mưu toan của các đảng cộng sản để cướp lấy chính quyền về tay riêng cho đảng, nhân dịp có các cuộc kháng chiến và giải phóng đã bị mau chóng phá vỡ vì sự hiện diện của các quân đội Anh Mỹ. Và bắt đầu vào cuối năm 1944, các chỉ thị của Staline đã khuyến cáo các lực lượng võ trang của cộng sản và thân cộng sản : hảy chôn dấu các vũ khí , đạn và chờ đợi một dịp tốt hơn để cướp chính lấy quyền . Thẩm quyền này đã được tỏ ra rõ ràng sau cuộc hội kiến giữa Staline và Maurice Thorez, diễn ra tại điện Kremlin vào ngày 19 tháng 11 năm 1944. Là Tổng thư ký của đảng cộng sản Pháp, Thorez đã sống ở Nga, trong suốt thời kỳ xảy ra chiến tranh và sắp sửa lên đường trở về Pháp.

Số phận của các thiếu nhi Hy Lạp và con quái vật Minotaure sô viết

( Theo truyện thần thoại của Hy Lạp, Minotaure là một con quái vật, nữa người nữa con bò mộng. Mỗi năm phải tế thần cho Minotaure một thiếu niên để y dùng vào việc riêng )

Trong lúc xảy ra cuộc nội chiến từ năm 1946 cho đến năm 1948, các người cộng sản Hy Lạp đã kiểm kê tất cả các trẻ em nam và nữ từ 3 tuổi đến 14 tuổi, trên toàn thể các vùng mà họ kiểm soát. Tháng 3 năm 1948, tất cả các trẻ này đều được tập họp về các vùng gần các biên giới và cả chục ngàn trẻ em được đưa qua các nước Albanie, Yougoslavie và Bulgarie. Các người dân làng phải đem giấu các trẻ em vào trong các khu rừng. Hội Hồng Thập Tự sau muôn ngàn khó khăn đã kiểm kê được con số 28 296 trẻ em. Mùa hè năm1948, với các việc tuyệt giao TiTo Kominform, một số 11 600 trẻ em đã từ Yougoslavie chuyển qua các nước Tiệp Khắc, Hung, Bảo và Ba Lan, bất chấp các lời kháng cáo của chính phủ Hy Lạp và vào cuộc họp lần thứ 3 của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc đã ra một nghị quyết lên án việc bắt cóc các trẻ em Hy Lạp.

Tháng 11 năm 1949, Hội Đồng Liên Hiệp Quốc đã đòi phải đưa các trẻ em Hy Lạp hồi hương. Tất cả các nghị quyết của Liên Hiệp Quốc đều không hề được đáp ứng.
Các chế độ cộng sản hàng xóm đều trả lời là các trẻ em này được sống sung túc ở nước họ hơn là ở Hy Lạp; vắn tắt là các cuộc lưu đày những trẻ em này là một hành động nhân đạo .

Vậy mà, cuộc cưỡng bách lưu đày các trẻ em đã diễn ra trong các hoàn cảnh khốn khổ, thiếu ăn và các chứng bịnh thời khí đã khiến nhiều trẽ em đã chết. Được tập họp trong các làng thiếu nhi , các em ngoài các chương trình học tổng quát phải học tập thêm về chính trị, nói đơn giản là nhồi sọ các em. Và bắt đầu từ 13 tuổi, các em phải lao động như các tiêu chuẩn của người lớn, như việc khẩn hoang các vùng đầm lầy ở Hung Gia Lợi, tên vùng là Hartchag. Hậu ý của các người lãnh đạo cộng sản là đào tạo một thế hệ mới, tuyệt đối đãu tranh tận tụy cho chủ nghĩa. Việc thất bại đã hiển nhiên xảy ra : vào năm 1956, một người Hy Lạp tên Constantinidès đã chiến đãu chống lại Hồng Quân sô viết và đã tử thương cùng các bạn người Hung. Nhiều người Hy Lạp khác đã chạy thoát qua Đông Đức.

Trong các năm 1950 đến năm 1952 chỉ có 684 trẻ em được trả về cho chính phủ Hy Lạp. Đến năm 1963, khoảng 4 000 trẻ em được trả về trong số này có nhiều em đã sinh ra ở các nước cộng sản. Ở nước Ba Lan, cộng đồng người Hy Lạp vào các năm đầu của thập niên 1980, đã được con số là vài chục ngàn người. Có một số người tham gia vào phong trào Solidarnosc và bị cầm tù sau cuộc đảo chánh của tướng Jaruzelski. Sau năm 1989, với việc dân chủ hóa đang diễn ra, nhiều ngàn người Hy Lạp ở Ba Lan đã trở về nước của họ

( Trích từ : Vấn đề Hy Lạp trước Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, bản phúc trình của Ủy ban đặc biệt cho vùng Balkans, 1950 ).

Sau chiến tranh và cho đến ngày Staline qua đời, các đường lối hành động bạo ác cùng với các cuộc khủng bố đã được thiết lập trong lòng tổ chức Komintern từ thời trước khi xảy ra chiến tranh, vẩn được duy trì ở trong phong trào cộng sản quốc tế. Ở Đông Âu, việc đàn áp các người ly khai , các người có tư tưởng này hay là các người bị khép vào cảnh giả định đã diễn ra gắt gao và riêng các vụ xử án gian lận đã được dàn cảnh lớn lao. Cao điểm các cuộc khủng bố đã đạt được khi xảy ra vụ khủng hoảng giữa Staline và TiTo vào năm 1948. Vì đã từ chối không chịu tự phục tòng và đã làm tan vỡ quyền uy tối cao của Staline ; TiTo đã bị gán cho là một tên Trotski mới . Staline toan tính cho ám sát TiTo, nhưng TiTo là một con người đa nghi và được sự bảo vệ của bộ máy nhà nước do ông thiết lập. Vì không thể thủ tiêu được TiTo, các đảng cộng sản liên kết trên thế giới đã lần lượt phát động các hành động phóng đảng ( débauche ) các vụ giết người vì chính trị với tư các tượng trưng và khai trừ ra khỏi đảng các phần tử mà họ gán cho là theo chủ nghĩa TiTo .

Nạn nhân đầu tiên để chuộc tội ( expiatoires) là vị Tổng Thư Ký của đảng cộng sản Na Uy ( Norvege ) Peder Furubotn một lảo thành viên của tổ chức Komintern, sau một thời gian lưu trú lâu dài ở Moscou và đã trở về nước vào năm 1938, nhờ vậy ông mới cứu được mạng sống của ông. Ngày 20 tháng 20 năm 1949, nhơn một cuộc họp của đảng cộng sản Na Uy, một đảng viên cộng sản tay sai của Moscou tên là Strand Johansen đã tố cáo Furubotn là ngã theo chủ nghĩa TiTo. Được sự tín nhiệm của nhiều đảng viên cộng sản, Furubotn liền triệu tập đại hội đảng vào ngày 25 tháng 10 và tuyên bố từ chức cùng với đoàn thể các thành viên của Ủy ban trung ương đảng với điều kiện là trong thời gian ngắn phải có một cuộc bầu để có một Ủy ban trung ương mới và các lời tố cáo ông phải được một Ủy ban quốc tế cộng sản xét xử.

Các đối thủ của Furubotn đã bị hụt giò . Ngày hôm sau, dưới sự ngạc nhiên và phẩn uất của toàn thể các đảng viên cộng sản , Johansen và các đảng viên cộng sản thân tín của y, đã xông vào trụ sở của Ủy ban trung ương , tay cầm súng đã đuổi tất cả các đảng viên thân Furubotn ra khỏi trụ sở. Và liền sau đó Johansen tổ chức một cuộc họp và bầu cử khai trừ Furubotn và ông này đã từng biết rõ các lối hành động của các người cộng sản sô viết, liền bế môn tỏa cảng ở trong nhà ông cùng với các bạn ông, tất cả đều có vũ khí để chống cự lại nếu bị tấn công. Sau các việc đã xảy ra như một film cinéma trinh thám , đảng cộng sản Na Uy / PCN đã mất các phần tử đãu tranh nồng cốt và sống động. Còn về phần Johansen, bị các nhân viên sô viết dùng y thử nghiệm từ mưu toan này đến mưu toan khác đã lần lần mất trí nhớ.

Và màn diễn chót, của các hành động khủng bố trong phong trào cộng sản, đã diễn ra vào năm 1957, Imre Nagy, một người cộng sản Hung Gia Lợi, đã một lúc cầm đầu cuộc nổi loạn vào năm 1956 ở Budapest, ( coi lại chương Karel Bartosek ) phong trào bị đè nát, ông chạy vào tòa Đại sứ Yougoslavie xin tị nạn và không chịu đi ra, e sợ cho tính mạng của mình. Sau các cuộc mưu toan quanh co và mờ ám, các người Nga sô viết đã bắt được ông và quyết định đưa ông ra xử tại Hung Gia Lợi. Nhưng không muốn chịu trách nhiệm về việc sát hại này, đảng cộng sản Hung Gia Lợi đã thừa dịp cuộc Hội Thảo lần thứ nhất của đảng cộng sản trên thế giới lần thứ nhất nhóm họp ở Moscou vào tháng 11 năm 1957, để bỏ phiếu lên án tử hình Imre Nagy, có sự hiện diện của các vị lãnh tụ các đảng cộng sản, trong đó có Maurice Thorez người Pháp và Paimiro Togliatti người Italie. Trừ phiếu chống lại của Gomulka, tổng thư ký đảng cộng sản Ba Lan. Imre Nagy bị kết án tử hình và bị treo cổ ngày 16 tháng 6 năm 1958.
User avatar
TTL
 
Users Information Users Information
 

Offline

Re: Mật thư tội ác của chủ-nghĩa Cộng-sản - Le livre noir du...

Postby TTL » Sat Jan 12, 2008 2:44 am

Phần 2. Chương 18

Cách mạng thế-giới - Nội chiến và khủng bố
Bóng đen của cơ quan NKVD trên lãnh thổ Espagne



Ngày 17 tháng 7 năm 1936, lực lượng quân đội Espagne trú đóng tại Maroc, vào thời đó là thuộc địa của Espagne, dưới sự lãnh đạo đồng là chỉ huy trưởng là tướng Franco đã nổi loạn chống lại chính phủ Cộng Hòa Espagne.

Ngày hôm sau, cuộc nổi loạn lan tràn trên toàn chính quốc. Đến ngày 19 cuộc nổi loạn đã bị thất bại ở tại nhiều thành phố như : ( Madrid, Barcelone, Valence, Bilbao ), vì tất cả ở các nơi đã xảy ra các cuộc tổng đình công và việc động viên nhiều lớp nhân dân. Cuộc nội chiến này đã thai nghén từ nhiều tháng qua. Ngày 16 tháng 2 năm 1936, Mặt trận bình dân đã sát nút thắng cuộc tổng tuyển cử với số 4 700 000 phiếu ( 267 ghế đại biểu ), thắng hữu phái chỉ có được 3 977 000 phiếu ( 132 ghế dân biểu ) và các người trung tâm 499 000 phiếu. đảng xã-hội được 89 ghế dân biểu và đảng cộng hòa thiên tả 84 ghế đại biểu, và đảng POUM ( đảng công nhân marxiste thống nhứt được thành lập do sự tập hợp của khối công nhân và nông dân của Joaquin Maurin và tả phái cộng sản của Andreu Nin ) được 1 ghế dân biểu. Các lực lượng chính trị lớn của nước Espagne gồm có các : Các người vô chính phủ ( anarchistes ) của Tổng Liên Đoàn Lao Động ( viết tắt là CNT ) và Liên đoàn các người vô chính phủ ở bán đảo Ibéria. Hai phe Tổng Liên Đoàn và Liên Đoàn họp lại có 1 577 547 đoàn viên chống lại 1 444 474 đoàn viên thuộc đảng Xã-hội và Tổng Liên Hiệp Lao Động, và đúng theo học thuyết ( doctrine ) của họ, đã không cử người đại diện, nhưng nếu không có số thăm của các đoàn viên và các người cảm tình viên các lực lượng chính trị kể trên ; đã hỗ trợ, thì Mặt Trận Bình Dân khó mà đắc cử. Mười sáu người trúng cử của đảng cộng sản Espagne ( viết tắt là PCE ) đã là đại diện nhiều hơn so với lực lượng đúng sự thật của họ : họ tuyên bố là họ có 40 000 đoàn viên nhưng trên thực tế họ chỉ có lối 10 000 đoàn viên và các người này đã lèo lái các tổ chức vệ tinh để có được con số trên một trăm ngàn người đã gia nhập vào các tổ chức vệ tinh này.

Một tả phái chia rẽ và hỗn hợp phức tạp ( composite ), một hữu phái có thế lực và một cực hữu phái quyết liệt ( tên là Phalange ), trong một khung cảnh sôi động của các đô thị và ở nông thôn ( đình công và tổng bãi thị - Xâm chiếm đất đai ), một lực lượng quân đội được hưởng nhiều đặc quyền, một chính phủ yếu kém, các cuộc âm mưu khác nhau, các vụ bạo động chính trị mỗi lúc mỗi gia tăng : tất cả các sự kiện này đã làm phát động một cuộc nội chiến mà đã có nhiều người mơ ước. Cuộc nội chiến này đã có tầm vóc ( dimension ) đặc biệt : trên bình diện của Âu Châu, cuộc nội chiến này đã tượng trưng cho cuộc ngang sát nhau ( affrontement ) giữa các nước Phát Xít và các nước Dân Chủ. Với việc gia nhập vào đãu trường ( lice ) của Liên Bang Sô-Viết, các kết quả của hai cực ( effet de polarisation ) tả và hữu đã trở nên rõ ràng.

Lập trường chính của các người cộng sản

Trước kia, tổ chức Komintern ít chú ý đến tình hình của Espagne và sau khi chế độ quân chủ sụp đổ vào năm 1931, tổ chức Komintern đã bắt đầu chú ý từ khi này và nhất là họ càng để tâm hơn với cuộc nổi dậy, của các người công nhân ở vùng Asturia vào năm 1934. Nhưng nhà nước Sô-Viết cũng không thấy có lợi ích gì về sự công nhận lẫn nhau. Vào tháng 8 năm 1936, giữa chính phủ cộng hòa Espagne và Liên Bang Sô Viết. Sau khi cuộc nội chiến bùng nổ và tránh việc làm lan rộng để có thể xảy ra cuộc can thiệp quốc tế, Liên Bang Sô-Viết và hai nước Pháp-Anh đã ký với nhau một thỏa ước không can thiệp vào cuộc nội chiến. Ngày 27 tháng 8 năm 1936, đại sứ Sô-Viết tên Marcel Israelevitch Rosenberg đến Espagne nhận nhiệm sở.

Để được có thêm nhiều ảnh hưởng, các người cộng sản đã đề nghị với đảng xã-hội việc hợp nhứt hai đảng . Nhưng chỉ được ở cấp bực các tổ chức thanh niên là thành tựu được việc hợp nhất với việc thành lập phong trào Thanh Niên Thống Nhất vào ngày 1 tháng 4 năm 1936 và thành tựu thứ hai là việc thành lập đảng Xã Hội Thống Nhất ở vùng Catalogne ngày 26 tháng 6 năm 1936.

Trong chính phủ cộng hòa được ủy nhiệm, lãnh đạo nước Espagne, vào tháng 9 năm 1936 do Thủ Tướng Largo Caballero, đảng cộng sản Espagne viết tắt là PCE chỉ được giao có 2 bộ : Jesús Hernández giữ bộ Học Chính ( Instruction publique ) tương đương với bộ giáo-dục và Vincente Uribe giữ Bộ Canh Nông. Nhưng các người đã được Ảnh Hưởng ( influence ) rất mau. Nhờ các mối cảm tình họ đã được các Bộ-trưởng của chính phủ dành cho họ, là các ông Alvarez de Vayo, Juan Negrin và đại sứ Sô-Viết là Rosenberg đã xử sự với họ như là đệ nhất phó Thủ Tướng ; ông Rosenberg có được một điều kiện rất lớn và thuận lợi đó là việc Liên Bang Sô Viết sẵn sàng cung cấp vũ khí cho các người cộng hòa.

Đây là một việc mà nước này đã can thiệp trắng trợn vào nội bộ một nước khác. Việc can thiệp của một đảng. Nhà nước Sô-Viết đã nằm ở ngoài vòng các thường vụ và đã tạo lên một sự nổi bật đặc biệt, vì nó đã diễn ra vào một lúc then chốt ; thời điểm gần ngày 20 năm sau các người Bôn-sê-vít cướp lấy chính quyền của Nga và nằm trong khuôn khổ quốc tế đã là việc mở đường trong hai giai đoạn kế tiếp, các năm 1934-1941 và các năm 1944-1945 để bành trướng ảnh hưởng của Liên Bang Sô-Viết ở lục địa Âu-Châu : ở Trung và Đông Âu.

Ở tại Espagne việc phối hợp một phong trào xã-hội sâu rộng, đã nhắc lại các tình thế giống như vậy đã xảy ra sau đệ nhất thế chiến và với cuộc nội chiến và với cuộc nội chiến ở Nga đã đưa đến việc can thiệp vào nội bộ Espagne, việc mà họ hằng hy vọng. Tình hình chính trị và xã-hội ở Espagne trong những năm 1936-1939 đã trở thành một phòng thí nghiệm ( laboratoire ) cho các người Sô-viết vì họ đã có nhiều kinh nghiệm và đã tại nước này một loạt các phương tiện hành động ( panoplie ) về chính trị mà họ đã có sẵn và thử nghiệm các kỹ-thuật mà họ sẽ tái sử dụng vào lúc khởi đầu đệ nhị thế chiến và toàn dụng khi chiến tranh chấm dứt. Họ có rất nhiều mục tiêu, nhưng mục tiêu ưu tiên là làm sao cho đảng cộng sản Espagne ( đã hoàn toàn bị các cơ quan của tổ chức Komintern và NKVD kiểm soát ) đoạt được việc kiểm soát quyền lực của nhà nước hầu để nền cộng hòa này sẽ làm theo các ý muốn của Moscou. Muốn đạt được mục này phải cần áp dụng các phương pháp sô-viết mà hàng đầu là sự hiện diện của chế độ cảnh sát và việc thủ tiêu các lực lượng không phải là cộng sản.

Lãnh tụ cộng sản Italie tên Palmiro Togliatti và là thành viên lãnh đạo tổ chức Komintern, được phái sang Espagne để hoạt động và mang tên là Ercoli ( 1936 ), đã giải thích tính chất căn bản của cuộc nội chiến và gọi là chiến tranh giải phóng quốc gia . Theo các lời giải thích của Ercoli, cuộc cách mạng Espagne là cuộc cách mạng nhân dân, quốc gia và chống phát xít đã đặc cho các người cộng sản nhiều nhiệm vụ mới : Nhơn dân Espagne giải quyết các nhiệm vụ của cuộc cách mạng tư-sản dân chủ với một đường lối mới . Và mau chóng, Ercoli đã chỉ mặt các kẻ thù của quan niệm về cách mạng ở Espagne : Các người lãnh đạo cộng hòa cùng với các người lãnh đạo đảng xã-hội là các phần tử núp dưới chiêu bài của các nguyên tố vô chính phủ đã làm suy yếu sự kết hợp và sự đồng tâm nhất trí của mật trận bình dân bằng cách đề ra quá sớm các chương-trình tập thể hóa cưỡng bách .. .. Ercoli đã đưa ra một mục tiêu : thực hành bá quyền cộng sản sẽ thành đạt được nhờ việc thành lập một mặt trận duy nhất giữa hai đảng cộng sản và đảng xã-hội hợp lại, thành lập một tổ chức duy nhất các thanh niên lao động, tổ chức một đảng duy nhất vô-sản ở vùng Catalogne, tên viết tắt là PSUC và biến đổi đảng cộng sản thành một đảng lớn của toàn dân. Vào tháng 6 năm 1937, cô Dolorès Ibarruri một nữ đảng viên lừng danh với các lời kêu gọi kháng chiến của cô. Cô đã đề nghị một mục tiêu mới : Thành lập một nền cộng hòa dân chủ và lập-hiến kiểu mới.

Sau khi xảy ra việc cướp lấy chính quyền bất hợp pháp ( promunciamiento ) của tướng Franco, Staline đã tỏ ra thờ ơ với tình hình ở Espagne, việc này được Jef Last đã cùng văn hào Pháp André Gide viếng Moscou trong mùa hè 1936 đã viết : Chúng tôi rất bất mãn vì việc vắng và thiếu chú ý đến các tình hình xảy ra. Và trong các cuộc hội kiến ở những lần nói chuyện riêng, chúng tôi đã đề cập đến vấn đề này, tất cả đều thận trọng tránh né để nói ra các quan niệm của mình. Nhưng sau hai tháng với các việc biến chuyễn đã thay đổi tình thế, Staline đã hiểu rỏ sẽ thu đạt được tất cả các lợi điểm về hai mặt Ngoại-giao và tuyên-truyền . Để thực hành đường lối không can thiệp , Liên Bang Sô Viết đã hội nhập vào các nước mà có thể cho ông cơ hội để hành động một đường lối tự trị ( autonome ) rộng lớn của nước Pháp đối với nước Anh. Song song, URSS đã bí mật cam kết cung cấp vũ khí cho chính phủ cộng hòa Espagne, giúp đở về quân sự và dự định khai thác các khả năng có thể có của chính phủ Mặt trận Bình dân Pháp có thể đóng góp cho mưu toan của Staline, là hợp tác để tổ chức các giúp đở vật chất cho các người cộng hòa Espagne. Theo các chỉ thị của Léon Blum chủ tịch đảng xã-hội Pháp kiêm Thủ Tướng, ông Gaston Cusin phó trưởng phòng Bộ Trưởng Tài Chính đã chính thức tiếp đón các mật viên sô-viết , các người này đã đặt trủ sở tại Paris và họ đã tổ chức việc chuyển vận các vũ khí và tuyển mộ các chiến sĩ tình-nguyện sang chiến đãu ở Espagne. Nếu Liên Bang Sô-Viết tuyên bố là không tham dự vào tình thế ở Espagne , thì tổ chức Komintern đã huy động tận lực các phân bộ của tổ chức này ở khắp nơi trên thế giới, để giúp cho các người cộng-hòa Espagne ; và đã biến cuộc chiến này thành một trục kéo để cho các cuộc tuyên truyền chống phát-xít, và thuận lợi riêng cho phong trào cộng sản.

Ở Espagne, chiến thuật của cộng sản là chiếm đoạt được các ngôi vị, càng nhiều càng tốt ; hầu để chuyển hướng chính-trị của chính-phủ cộng-hòa trong chiều hướng đảng. Nhà nước theo khuôn mà đường hướng của đảng và nhà nước sô-viết hầu để khai-thác các lợi điểm về tình trạng chiến tranh. Julian Gorkin, một nhà lãnh đạo của đảng POUM, đã là người đầu tiên ( việc này thì không thể nghi-ngờ được ) đã nhận xét sự liên quan của chính-sách nơi các người sô-viết ở Espagne với việc thành lập các nước Dân-chủ Nhơn dân ở Đông-Âu sau chiến tranh, ông đã viết một sách-lược luận ( essai ) với tựa đề : Espanã, primer ensayo de democracia popular ( Nhà xuất bản Buenos Aires, 1961 ) ; Ông Gorkin đã được chứng kiến việc thi hành một chính-sách đã được hoạch-định từ trước và sử-gia người Espagne Antonio Elorza đã nhận xét là đường lối chính trị của các người cộng sản Espagne xuất phát từ quan niệm nhất phiến ( monolithique ) không phải là đa nguyên ( pluraliste ) về các liên-quan chính-trị trong lòng của Mặt trận Bình dân và vai trò của đảng là việc biến đổi tự nhiên liên minh này trở thành một bàn đạp để đoạt được bá quyền. Antonio Elorza cũng nhấn mạnh về một điểm bất di dịch ( invariant ) và sẽ trở thành chính sách cộng sản : ép đặt bá quyền của đảng PCE lên trên tất cả các người hay phần tử chống phát xít, không những chống phát xít ở ngoài đảng mà cũng đối với các cuộc chống đối ở nội bộ . Ông lại thêm vào : Vì đó là kế hoạch và là một tiền đề trực thẳng vào chiến lược để đoạt được chính quyền ở trong các nước được gọi là Dân chủ Nhân dân .

Kế hoạch này đã gần như thực hiện được vào tháng 9 năm 1937, Moscou toan tính ra chỉ thị thực hành một cuộc tuyển cử : các danh sách duy nhất đã được đưa ra và có thể cho phép đảng cộng sản PCE đạt được các lợi điểm về cuộc toàn dân đầu phiếu . Kế- hoạch này đã do chính Staline hoạch định và chú ý theo dỏi để đưa đế việc tức vị (avènement ) của một nền Cộng Hòa Dân Chủ một loại mới Ông đã dự định việc loại ra các vị bộ trưởng thù nghịch cộng sản. Nhưng mưu toan của ông đã không thành vì gặp phải sự chống đối của các đảng liên minh với đảng PCE và sự diễn tiến đáng lo ngại về tình cảnh của chính-phủ cộng-hòa sau cuộc phản công thất bại của quân lực của họ ởTeruel vào ngày 15 tháng 12 năm 1937.

Các vị cố vấn và các nhân viên

Khi Staline đã nhận định được đất Espagne là nơi đã dành cho ông nhiều hợp thời cho URSS và ông đã quyết định đây là thời cơ hữu ích để can thiệp. Moscou liền biệt phái sang Espagne một số lớn các cán bộ đủ loại và trực thuộc vào nhiều cơ quan khác nhau. Khởi đầu là lối từ khoảng 700 đến 800 cố vấn quân sự thường trực và theo nguồn tin sô-viết thì tổng số các cố vấn và nhân viên, lên đến 2 044 người ; trong số này có các vị cố vấn quân sự về sau đã được thăng lên đến chức Thống chế như các ông Koniev và Joukov, tùy viên quân sự vào thời đó là tướng V.E Goriev phục vụ ở tòa đại sứ quán URSS ở Madrid. Ủồng thời Moscou cũng huy động các đoàn viên thuộc tổ chức Komintern, các mật viên được gởi đi chính thức và bán chính thức thuộc một loại khác. Nhiều nhân viên đã cư ngụ thường trực như Vittorio Codovilla, người Argentine đoàn viên tổ chức Komintern đã giữ một vai trò quan trọng trong đảng cộng sản PCE từ các năm đầu thuộc thập niên 1930 và đã dự vào việc lãnh đạo đảng này. Ernö Gerö còn có bí danh là Pedro là người Hung Ga Ri và sau chiến tranh đã trở thành một trong các chủ nhân của nước Hung-Ga-Ri cộng sản, Vittorio Vidali người Italia ( đã bị nghi ngờ là vào năm 1929 đã tham gia vào việc ám sát sinh-viên cộng sản Julio Antonio Mella người Cuba ) Vittorio Vidali sau này đã là đệ nhứt ủy viên chính trị của trung đoàn 5 do cộng sản tổ chức vào tháng 2 năm 1937. Minev-Stepanov người Bun-ga-ri đã từng làm việc ở văn phòng thường vụ của Staline từ các năm 1927 đến 1929 và Palmiro Togliatti người Ý đã được phái đến đây vào tháng 7 năm 1937 và là đại diện chính thức của tổ chức Komintern. Các đoàn viên cốt cán khác của tổ chức này được biệt phái với nhiệm vụ thanh tra như tên Jacques Duclos, cộng sản Pháp sau chiến tranh và trong chính phủ Pháp đã lên tới chức Phó chủ-tịch Quốc-hội Pháp.

Song song, Moscou đã biệt phái sang Espagne một hạn số lớn các thành viên cốt cán của đảng cộng sản Nga như : V.A Antonov-Ovseenko, người đã chỉ huy vào cuộc tấn công vào Lâu đài Mùa Đông ở Petrograd vào tháng 10 năm 1917 và tên này đã đổ bộ lên Barcelone ngày 1 tháng 10 năm 1936. Tên Alexandre Orlov ( tên thật là L. Feldbine ), người chỉ huy cơ-quan NKVD ở Espagne ; tên Arthur Stachevsky người Ba-Lan cựu sĩ quan của Hồng-Quân Nga dưới lốt là tùy-viên thương mãi, tướng Ian Berzine, chủ sự phòng tình báo Hòng quân. Mikhaĩl Koltsov chủ nhiệm nhật báo Pravda và là người được coi là phát ngôn cho Staline và có văn phòng ở Bộ Chiến-tranh của chính-phủ Cộng-hòa Espagne. Leonid Eitingon, chỉ huy các lực-lượng an ninh nhà nước của cơ quan NKVD và Pavel Soudoplatov là phụ tá của Eitingon, họ đều đi đến Barcelone ; từ năm 1936 Eitigon được ủy-nhiệm các công tác khủng-bố, Soudoplatov mãi đến năm 1938 mới sang tới nơi. Tóm tắt là khi Staline quyết-định can thiệp vào nội tình của Espagne, ông đã tập trung một bộ tham mưu có khả năng hành động trong mọi lãnhvực đến vấn đề này. Hình như là vào đêm 14 tháng 9 năm 1936, chỉ huy trưởng của cơ quan NKVD là Iagoda đã triệu tập tại trụ sở Loubianka ở Moscou, một cuộc họp để phối hợp toàn thể các đầu nảo trong cuộc can thiệp của cộng sản vào Espagne. Họ có các nhiệm vụ : chiến đãu chống lại các lực-lượng quân sự của tướng Franco, được các cố vấn quân sự người Đức và người Ý giúp đở triệt để, kiểm soát và canh chừng hoặc loại trừ các đối thủ của đảng cộng sản và của URSS ở trong lòng của đội ngủ cộng hòa Espagne. Cuộc can thiệp của các người sô-viết Nga phải được giữ bí mật và được trá hình nếu có thể làm được để đừng liên lụy đến chính phủ sô-viết. Nếu tin theo lời của tướng Krivitsky, người chỉ huy phụ-trách các thường vụ hải ngoại của cơ quan KNVD ở Tây Âu thì trên khoảng 3 000 người Sô-viết hiện diện trên lãnh thổ Espagne, chỉ có 40 người là tham gia vào các cuộc hành quân chiến đãu, các người khác thì lãnhcác nhiệm vụ : cố vấn quân sự, cố vấ chính trị hay làm các nghiệp vụ về tình báo.

Khởi đầu các người sô-viết dồn nổ lực vào vùng Catalogne. Từ đầu từ tháng 9 năm 1936, cơ-quan tổng ủy trật tự công-cộng coi về tất cả các nghiệp vụ ngành công-an ở Catalogne đã bị các người cộng sản xâm nhập và các người này đã tổ chức trong lòng của cơ-quan này do nghị định của sở mật vụ Catalogne ( services secrets catalans, viết tắt là SSI ), mang danh xưng là Grupo de Información do tên Mariano Gomez Emperador chỉ huy ; cơ sở chính thức này đã có ngay 50 nhân viên làm việc, nhưng đây là một ăn-ten ( antenne ) trá hình của cơ-quan NKVD. Song song, đảng Xã-hội thống nhất của vùng Catalogne, danh xưng này đã được các người cộng sản chọn cho đảng Xã-hội, đảng này đã tổ chức một cơ sở mang tên Servicio Extranjero với văn phòng đặt ở phòng số 340 của khách sạn Colon, nằm trên công-trường Plaza de Catalunya được ủy-nhiệm kiểm soát các người cộng sản ngoại-quốc muốn đến chiến đãu giúp chính-phủ cộng-hòa Espagne và họ đã di chuyễn qua Barcelone ; và cơ sở này đã bị cơ-quan NKVD hoàn toàn kiểm soát và dùng cơ sở trá hình này để bao che các hành động của họ.

Một thành viên của hai tổ chức này ( SSI và Servicio Extranjero ) đã tiết lộ : viên chỉ huy địa phương của cơ-quan NKVD được đặt dưới quyền kiểm-soát của Orlov và Gerö Tên Alfredo Hertz một người cộng sản Đức ( căn cước chính của tên này không ai biết được ) đã xâm nhập vào cơ sở Cuerpo de Investigación y Vigilancia của chính phủ về các việc tổng quát và kiểm soát sở cấp phát giấy thông hành ( service des passports ) có nhiệm vụ nhập và xuất cảnh trên lãnhthổ Espagne. Hertz được quyền sử dụng lực lượng Vệ Binh Xung Phong ( Gardes d Assaut ) là các toán quân tinh nhuệ của cơ-quan An-Ninh. Với hệ thống của hắn đặt nằm vùng trong cơ-quan tổng-ủy trật tự công-cộng, Hertz đã nhận được tất cả các tin tình báo về các đảng cộng sản khác, các danh sách đen của các người chống phát-xít, các lời tố cáo của các người cộng sản hay chỉ-trích và lý lịch của tất cả các cán bộ của các cơ sở trong mỗi đảng cộng sản và đã chuyển giao các hồ sơ này cho Bộ Nhà Nước ( Departamento de Estado ) do tên cộng sản Victorio Sala chỉ huy. Hertz đã tổ chức cơ sở của hắn và đặt tên là Servicio Alfredo Hertz với sự bao che chính thức ( hợp pháp ) là một cơ-sở công an chính-trị song song ; gồm có các người cộng sản Espagne và cộng sản ngoại-quốc.
Dưới sự chỉ huy của Hertz, cơ sở này có nhiệm vụ là : Thiết lập tất cả các hồ sơ của các người ngoại quốc cư ngụ tại vùng Catalogne trước và sau đó là tất cả các người cư ngụ trên toàn lãnhthổ Espagne và danh sách đen các người làm trở ngại cần phải loại trừ.

Trong giai đoạn đầu từ tháng 9 đến tháng 12 năm 1936, việc sự ngược đãi các người đối lập đã xảy ra nhưng thiếu phương pháp. Ưu tiên được nhắm vào các người xã-hội dân chủ, các người nghiệp đoàn vô chính phủ, các người trốt-kít, các người cộng sản bất đồng chủ-trương và họ đã tỏ ra các đường lối chính trị rẻ tách nhau. Và dần dần cơ quan NKVD đã thiết lập ra các chương trình đàn áp đối với các lực lượng chính trị chống lại nền cộng hòa. Và đúng như dự tính, đã có nhiều kẻ thù đã chỉ trích, và tình trạng khẩn trương đã đến với các người cộng sản phản đối đường lối để đạt được bá quyền, đi theo đường lối và chính sách của URSS. Lẽ dỉ nhiên là trong hoàn cảnh này, việc thanh toán các mối thù cá nhơn, hoặc là trả thù sẽ đương nhiên diển hay xảy ra trong các cuộc đàn áp.

Các phương pháp của công-an và cảnh sát từ trình độ sơ khai, đến tối tuyệt hảo ( sophistiqué ) đã được các nhân viên sử dụng, các người nhân viên này ẩn dưới 2 hoặc 3 lý-lịch khác nhau. Nhiệm vụ đầu tiên của các viên công an đã được chính trị hóa tối đa là biến thể các guồng máy hành chính của chế độ cộng-hòa non nớt này, biến công-an và quân đội thành ra các thuộc đîa nơi họ có thể nói nôm na là muốn làm gì thì làm . Việc chinh phục lần lượt các đîa vị then chốt, việc làm nồng cốt của các cơ sở đã dựa trên sự kiệbn là URSS đã cung cấp vũ khí cho các người cộng hòa đang thiếu các trang bị quân sự và URSS cũng đòi hỏi lại sự bù đắp bằng sự nhiều hơn về chính trị. ( Sau cuộc thắng trận, tướng Franco hỏi đến số dự trữvàng của ngân hàng quốc gia thì hởi ơi, chính phủ cộng hòa đã gởi số vàng dự trữđể bảo đãm số giấy bạc in ra là 600 tấn đã được chở sang URSS. Việc này mãi đến năm cuối của thập niên 1980 mới được công bố ) Trái lại với các hành động của Hitler và Mussolini để giúp các người quốc gia, nước URSS đã bắt phải trả tiền trước các số vũ khí được chuyễn giao với số vàng của Ngân Hàng Quốc Gia Espagne và các nhân của cơ quan NKVD đã hộ tống sang đến tận Moscou ; mỗi một lần chuyển giao vũ khí là các người cộng sản Espagne PCE lại làm các cuộc tống tiền ( chantage ) thêm, để khai thác các lợi ích về chính trị.

Julian Gorkin đã đưa một gương mẫu về việc xem lẩn nhau giữa chiến tranh và chính trị : đầu năm 1937, thủ tướng của chính phủ cộng hòa Espagne Largo Caballero được sự ũng hộ của Tổng thống cộng-hòa Manuel Azana, đã cho phép vị đại sứ của Espagne ở Paris Luis Araquistain để thương lượng bí mật với đại sứ Italie tại Londres, tên Dino Grandi và Hjalmar Schacht, cố vấn về tài chính cho Hitler, dưới quyền giám hộ của Léon Blum ( Thủ-tướng Pháp ) và Anthony Eden đại diện cho chính phủ Anh-quốc để tìm một thỏa hiệp chấm dứt cuộc chiến nội bộ. Vị ngoại trưởng của chính phủ Espagne tên Alvarez del Vayo, ông này có tư tưởng triết lý cộng sản ( philocommuniste ), liền thông báo việc thương lượng này cho các người cộng sản PCE. Các người lãnhđạo PCE đã thỏa thuận với các vị chịu trách nhiệm của các cơ quan sô-viết là xa lánh Caballero và cấm không được làm việc thương lượng cùng các giải pháp để chấm dứt cuộc nội chiến với căn bản là việc triệt thoái các quân nhân người Italie và Đức quốc đang làm cố vấn cho quân lực nổi loạn của tướng Franco.
Sau các việc bị vu khống.. .. một viên đạn vào đầu

Bài của Victor Serge

Và đây là lời tuyên bố của Victor Serge, một nhà văn Nga lai Bỉ đã được phóng thích từ URSS vào tháng 4 năm 1936, đã nói với Julian Gorkin khi hai người đã gặp nhau vào năm 1937 ; đã báo trước cho người tranh đấu POUM về các hành động liên kết tai hại về chính trị. Một chính sách đã gặp phải nhiều chướng ngại : khối các người nghiệp đoàn vô chính phủ thuộc tổng liên đoàn lao công CNT, đã thoát được sự ảnh hưởng của các người cộng sản Espagne PCE, và đảng POUM cũng chống lại đường lối cộng sản. đảng POUM là một nạn nhân được chỉ định với lý do là đảng này là lực lượng đối nghịch khác cùng với địa vị ở ngoài lề trên bàn cờ chính trị. Đối với các người cộng sản cần phải khai thác các lợi điểm về chính trị hợp thời trong địa hình chính trị vào thời điểm này. Ngoài các lẽ trên, đảng POUM đã bị coi là dính líu với Trotski : trong năm 1935 các vị lãnh đạo của POUM là Andreu Nin và Julian Gorkin đã thực hành các cuộc vận động với chính quyền của vùng Catalogne để cho Trotski, vừa bị truật xuất ra khỏi nước Pháp, có thể định cư ở Barcelona. Trong khuôn khổ của việc săn đuổi các người thân hoặc thuộc Trốt-kít đang diển ra ở URSS, việc xảy ra đương nhiên là văn phòng của tổ chức Komintern họp vào ngày 21 tháng 2 năm 1936, tức là 5 ngày sau khi Mặt trận Bình-dân đã thắng cử trong cuộc tổng bầu cử. Tổ chức Komintern đã ra mệnh lệnh cho đảng cộng sản PCE phải chiến đấu quyết liệt chống lại các môn phái trốt-kít phản cách mạng . Cộng thêm vào việc là trong mùa hè năm 1936, đảng POUM đã dám táo bạo lên lời chống đối lại các vụ xửán lớn đầu tiên ở Moscou để bảo vệ các người nạn nhơn.

Ngày 13 tháng Chạp năm 1936, các người cộng sản đã loại được Andreu Nin ra khỏi Hội-đồng Hành-pháp của vùng Catalogne. Họ đã viện cớ là Andreu Nin đã phạm tội vu khống nước URSS và các người cộng sản đã dùng việc chuyễn giao vũ khí để làm một cuộc tống tiền và đạt được kết quả mà họ mong muốn. Ngày 16 tháng Chạp, báo Pravda đã phát động một chiến dịch quốc tế chống lại những người chống đối đường lối chính trị của sô-viết Nga : Ở tại vùng Catalogne, việc loại trừ các người trốt-kít và các người thuộc các nghiệp đoàn vô chính phủ đã bắt đầu ; việc loại trừ này chỉ ngừng với sự quyết tâm như đã diễn ra ở URSS .

Tất cả các người bất đồng hoặc đi tách ra về đường hướng chính trị đều bị các người cộng sản coi là một cuộc phản bội, và luôn luôn bất cứ ở đâu, hay bất cứ thời gian nào cũng có một cuộc xửlý liền hay là dời lại. Các lời vu khống, và các lời nối dối đều đổ lên đầu các thành viên của đảng POUM, các đơn vị chiến đấu của đảng này trong cuộc nội chiến, đã bị tố cáo là đã chạy bỏ các vị trí chiến đấu mà họ mà họ có nhiệm vụ chống giữ, trong lúc ấy các đơn vị cộng sản đã từ chối trợ chiến cho họ. Nhựt báo Humanité của đảng cộng sản Pháp đã tạo ra thành tích riêng biệt trong việc này bằng cách cho đăng các bài của Mikhail Koltsov, một người bạn thân của cặp Aragon-Triolet. Đề tài chính của cuộc vận động này đã được tóm tắt là việc quyết liệt được nhắc đi nhắc lại nhiều lần : đảng POUM là đồng lỏa với Franco, họ đã phản bội và làm lợi cho phát-xít. Các người cộng sản đã cẩn thận lo trước và đã cho người xâm nhập vào hàng ngũ của POUM, các nhân viên này dùng để thu thập các tin tức về tình báo và lập trước các danh sách đen, hầu để dễ nhận diện lúc cần tới ; các người đấu tranh của POUM hầu bắt giam họ. Một trường hợp được biết rỏ : đó là trường hợp của Léon Narvich đã liên lạc với Andreu Nin, đã bị lộ và đã bị một toán tự vệ POUM hành quyết, sau khi Andreu Nin đã biệt tích và các người lãnh đạo POUM bị bắt giam.

Tháng 5 năm 1937 và việc thanh toán đảng POUM

Ngày 3 tháng 5 năm 1937, các đơn vị của Vệ Binh Xung Phong do các người cộng sản chỉ huy, đã tấn công vào trung tâm các máy téléphone ở Barcelone do các người công nhân của CNT và UGT kiểm soát. Cuộc hành quân này do Rodriguez Salas chỉ huy. Y là đảng viên của PSUC và là chỉ huy trưởng công an. Cuộc tấn công này đã được chuẩn bị với các cuộc tuyên truyền và hành động ngược đãi như đóng cửa đài phát thanh của POUM, cùng đình bản tờ báo của họ là La Batalla. Ngày 6 tháng 5, năm ngàn nhân viên cảnh sát do các người cộng sản chỉ huy đã được di chuyễn và đưa đến Barcelone. Cuộc chiến đấu đã xảy ra giữa các lực lượng cộng sản và không cộng sản đã diễn ra dử dội, việc này đưa đến kết quả là có 500 người chết và 1000 bị thương ! !. Nhơn cơ hội xảy ra tình thế hổn độn, các người làm tai xai cho các người cộng sản , đã nắm lấy mỗi cơ hội để thủ tiêu các người đối lập lại đường lối chính trị của đảng cộng sản. Ông Camillo Berneri một người Italia và là triết gia vô chính phủ đã bị ám sát cùng với người bạn của ông là Barbieri, thi thể của họ với nhiều vết đạn đã được tìm thấy ngày hôm sau. Camillo Berneri đã trả một giá về sự can đãm của ông về chính trị, vì ông đã viết trong tờ báo của ông : Cuộc chiến tranh giai cấp : Ngày hôm nay chúng ta chiến đấu chống lại Burgos, ngày mai chúng ta sẽ phải chiến đấu chống lại Moscou, để bảo vệ các sự tự do của chúng ta . Alfredo Martinez, thơ ký của phong trào Thanh-niên Tự-do tuyệt đối vùng Catalogne và người tranh đấu trốt-kít tên Hans Frend và cựu thư ký của Trotski tênErwin Wolf, tất cả đều bị giết.

Kurt Landau, người nước Áo và là người cộng sản hoạt động đã từng đấu tranh ở Đức quốc, ở Áo quốc và ở Pháp trước khi đến Barcelone và tham gia vào đảng POUM. Người này bị bắt giam vào ngày 23 tháng 9 và cũng biệt tích trong các trường hợp tương tự. Vợ của Kurt Landau tên Katia cũng bị bắt giam đã khai về các cuộc Thanh trừng : ở trong các trụ sở của đảng tại : Pedrera, Paseo de Garcia ; ở trong các trại lính Carlos Marx và Vorocholov , ở tại các nơi này là các bẩy chuột và ổ để cắt cổ . Ở tại Pédréra các nhân chứng đã thấy lần cuối cùng hai chiến hữu mất tích ( làm việc tại Radio Poum ). Người ta, các người cộng sản PCE, đã giải đưa các thanh niên trẻ tuổi thuộc phe phái vô chính phủ về các trại lính, để tra tấn các người này một cách mà chúng ta không thể tưởng tượng được. Đánh gảy hoặc chặt tay chân và sau cùng ám sát họ. Tình cờ người ta đã tìm lại được các tử thi. Và bà Katia đã viết trên một bài báo của cơ quan nghiệp đoàn vô chính phủ Solidaredad Obrera : Trên các tữ thi mà tình cờ người ta gặp được, người ta đã nhận thấy là trước khi các người này chết, họ đã bị tra tấn một cách dã man, vì trên các tử thi này đã có các vết bầm tím và các vết thương tét da thịt, các vết thương bầm tím ở trên bụng đã sưng phù lên. Có một tử thi đã có cái đầu và cái cổ đã trở màu tím thẫm, chứng tỏ là người này đã bị treo hai chân lên, đầu ngược xuống đất. Trên đầu của cậu thanh niên chiến hữu xấu số này còn in hằn lên vết đánh bằng bá súng.

Nhiều người tranh đấu đã biến mất luôn, người ta không bao giờ tìm lại được dấu vết của các người tên sau đây : Guido Picelli, George Orwell, đã tình nguyện nhập ngũ đoàn chiến sĩ POUM, và đoàn này đã sống những ngày bị tàn sát giống như cuộc tàn sát Saint-Barthélemy ( xảy ra vào thời chiến tranh tôn giáo vào thế kỷ thứ 16 ở Pháp ), họ phải chạy trốn và ẩn nấp để được sống còn, và đã tả lại cảnh sống trong bầu không khí săn bắt đã diễn ra ở Barcelone. Trong một bản đính kèm những gì đã xảy ra trong những ngày rối loạn váo tháng 5 tại Barcelone , ở trong sách : Tôn kính cho vùng Barcelona - Các công an cộng sản đã kế hoạch hóa các vụ mưu sát, không riêng gì ở Barcelona. Tại Tortosa, ngày 6 tháng 5 đã có 20 người chiến sĩ đấu tranh của CNT đã bị các quân nhân của chính quyền ở Valence bắt giam ở dưới ngục tối của tòa đô sảnh, họ bị các tên giết thuê lôi ra và bắn chết. Ngày hôm sau, ở Tarragona 15 người đấu tranh thuộc phái tự do tuyệt đối cũng bị hạ sát không nương tay.

Tất cả những gì người cộng sản không đạt được trên bình diện của các nơi xảy ra các cuộc chiến, họ đã đạt được trên mặt chính trị. Thủ tướng của chính phủ Largo Caballero đã từ chối các đề nghị như là những lời trách mắng , của các người cộng sản đòi hỏi phải thi hành việc giải tán đảng POUM, tên José Diaz tổng thư ký đảng cộng sản PCE đã tuyên bố vào tháng 5 : đảng POUM phải được loại ra khỏi đời sống chính trị của nước này . Sau khi đã xảy ra các cuộc ngang sát nhau ở Barcelone, Caballero đã bắt buộc phải từ chức Thủ-tướng chính phủ vào ngày 15 tháng 5 và được ông Juan Negrin, một người xã-hội ôn hòa được cử làm Thủ-tướng thay. Nhưng than ôi ! Ông này lại là người tùy thuộc vào các người cộng sản và tất cả các chường ngại vật cản trở họ để đạt được mục tiêu đã được tháo gở. Thủ tướng Negrin đã chấp nhận đường lối của cộng sản và ông đã bắt buộc phải viết cho tuần san tiếng Anh Times do phóng viên chuyễn giao về tòa soạn, đó là ký giả Herbert L. Matthews là đảng viên POUM đã bị các phần tử quá dị ứng kiểm soát, để đối lại tất cả những gì có ý nghỉa là chỉ đạo duy nhất và tối cao, để tranh đấu dưới một kỹ luật chung ? ? !, Nhưng ông đã chấp thuận cuộc khủng bố áp đặt lên đảng POUM. Ông Julian nhận thấy sự thay đổi cấp tiến đã diễn ra và ghi lại như sau : Sau vài ngày thành lập chính phủ Negrin, Orlov đã hành động và coi nước Espagne như là một vệ tinh của Nga sô-viết. Y đã đến cơ-quan Tổng An-ninh Quốc-gia và đã đòi hỏi vị chỉ huy là Đại-tá Ortega phải hành động theo lịnh của y, và coi vị đại tá này là một sĩ-quan cấp dưới lệ thuộc. Các lịnh bắt giam các thành viên của ủy-ban Hành-pháp POUM đã được tống đạt.

Ngày 16 tháng 6 năm 1937, Negrin cấm đảng POUM hoạt động vì các người lãnh đạo đã bị bắt giam. Quyết định chính thức này đã cho phép các nhân viên cộng sản hành động dưới sự che chở của sự hợp tác hoàn toàn phe phái. Cùng ngày này, vào lúc 1 giờ trưa Andreu Nin đã bị các cảnh sát viên chận bắt ở ngoài phố. Các chiến hữu của ông đã không bao giờ gặp lại ông, dù là sống hay chết.

Các cảnh sát viên và công an viên từ Madrid được phái đến Barcelone, vì họ đáng tin cậy hơn các người này đã hoàn toàn lệ thuộc vào các người cộng sản, họ đã xông vào trụ sở của ban biên tập tờ báo La Batella và các trụ sở khác của đảng POUM. Hai trăm người chiến sĩ đấu tranh đã bị bắt giam, trong số này có các vị lãnh tụ : Julian Gorkin, Jordi Arquer, Juan Andrade, Pedro Bonet, v.v.. Để chứng minh cho việc mai hậu, việc thủ tiêu đảng POUM, các người cộng sản đã ngụy tạo ra đủ các loại giấy tờ để có bằng chứng là POUM đã phản bội và tố cáo là họ đã hoạt động gián điệp cho tướng Franco. Ngày 22 tháng 6 một tòa án đặc biệt đã được thiết lập, và một cuộc tuyên truyền đã được phát động : cảnh sát và công an trong các cuộc lục soát các trụ sở của đảng POUM, đã phát giác ra các tài liệu đã xác định việc các hoạt động gián điệp do các người cộng sản đề ra, Max Rieger một ký giả, đã theo lịnh từ một cái được gọi dưới tên tập thể, đã thu thập các tài liệu ngụy tạo hay giả tạo này để làm ra một cuốn sách với tựa đề : Nghiệp vụ gián điệp ở Espagne, và cuốn sách này đã được phát hành dưới nhiều thứ tiếng khác nhau.

Düói sự chỉ huy của Orlov và với sự che chở của Vidali, Ricardo Burillo và Gero, các tên giết thuê đã bắt Andreu Nin đã tra tấn ông này, cuộc tra tấn này đã không đạt được một lời thú tội , để chứng minh các lời buộc tội đối với ông và làm hại đảng của ông ; và cũng không ép buộc được ông phải ký một văn kiện nào hay một lời khai nào. Từ đó họ chỉ còn cób giải pháp là thủ tiêu ông và dùng sự mất tích của ông để làm mất danh dự của ông, bằng cách phao tin là ông đã trốn sang hàng ngủ của tướng Franco. Các cuộc ám sát và các cuộc tuyên truyền đi đôi với nhau. Về sau trong các việc tra cứu các hồ sơ tồn trữở văn khố tại Moscou, đã cho phép xác nhận các điều mà các chiến hữu của Andreu Nin đã giã định vào tháng 9 năm 1937 là đúng.

Chỉ sau khi phát động các hành động đánh phá đảng POUM, ngày 16 và 17 tháng 6, các người cộng sản bắt đầu cuộc săn bắt người có phương pháp, những tên phản bội trốt-kít cùng với các người chống đối khác. Để điều hành các hành động của họ, các người cộng sản đã sử dụng các hồ sơ về lý-lịch nơi các cơ quan cảnh-sát và công an. Họ đã trở thành các tên tchékit của nước Espagne. Họ đã tồ chức các khám đường bất hợp pháp và song song với các nơi giam giữ của chính quyền mà dân chúng đã gọi là các ceka ( họ dùng tiếng Nga là Tchéka, nhưng bỏ chữT và chữH đi nên còn lại là Céka ).Tên của các nơi dùng làm céka được biết là : Céka trung ương của Barcelone ở số 24, Avenida Puerta del Angel, với chi nhánh ở Hotel Colon nơi công trường Catalogne, và một ở Tu-viện củ Atocha tại Madrid, Santa Ursula ở Valencia và Acalá de Henares. đã có nhiều tư thất bị trưng dụng làm nơi giam cầm, hỏi cung và hành quyết.
Đầu năm 1938 đã có 200 người bị giam cầm ở céka Santa Ursula, vì bị tố cáo là chống phát-xít và chống các người thân Staline. Vào thời điểm này, céka Santa Ursula, đã được coi như trại Dachau của Espagne ( trại Dachau của Hitler đã lừng danh là nơi giam cầm và thủ tiêu các người chống đối chế độ Đức-quốc-xã và các người Do-thái ). Khi các người cộng sản quyết định thiết lập một céka , chúng tôi đang lo quét dọn một nghĩa trang nhỏ, đó là lời thuật lại của một nhân chứng. Các người tchékit đã có một hành động yêu quái : họ để nghĩa trang này trong tình trạng với các chiếc mã đã được mở nắp ra, để trông thấy các bộ xương và các xác chết đang tan rữa ra. Củng tại các mã này, hàng đêm họ nhốt các người bị bắt cứng đầu nhứt. Họ đã dùng các cực hình cục súc nhất bằng cách : treo chân các người bị bắt đầu ngược xuống đất, trong xuốt cả ngày. Các người khác bị nhốt trong các chiếc tủ và họ chỉ đục vài cái lổ để cho người bị nhốt có đủ khí trời để thở. Còn có một hình thức tra tấn khác còn cục súc hơn nữa : người ta bắt buộc các người tù nhân phải ngồi chồm hổm trong các cái thùng hình vuông trong nhiều ngày ; có người bị bắt ngồi như vậy từ 8 đến 10 ngày mà không được cử động. Để thực hành các công việc đồi bại này, các nhân viên sô-viết đã dùng các người thuộc thành phần các tên tù về tội ác, và hình như các việc làm của họ được cô Pasionaria chấp thuận. Trong một cuộc biểu tình và hội-thảo củ cộng sản ở Valencia cô này đã tuyên bố : Tốt hơn là lên án một trăm người vô tội, còn hơn tha bổng một người thủ phạm .

Xử dụng các cuộc tra tấn là một phương pháp : tra tấn bằng cách trói tay chân cho nằm vào một chiếc bồn tắm, rồi đổ đày nước có savon, vì nước này sẽ khiến nạn nhân ụa mửa ra. Có nhiều loại tra tấn khác thuần túy sô-viết , đó là bắt không cho các nạn nhân ngủ và phải thức nhiều ngày liên tiếp. Nhốt nạn nhân vào một cái tủ chật hẹp tên là : celda armario mà nạn nhân không thể đùng hay ngồi cùng là cử động tay chơn và chỉ khó khăn để thở. Một ngọn đèn rất sáng thắp xuốt ngày, đêm. Nhà văn Soljenitsyne đã tả chân loại xà lim này trong các chương của Quầnđảo các Goulay, khi ông tả cảnh lúc ông vào trụ sở Loubianka của cơ quan NKVD ở Moscou.

Việc hành quyết đơn sơ là việc xảy ra thường xuyên : Trung úy Astorga Vayo thuộc sở điều-tra về quân sự và cơ quan NKVD đã tìm ra phương pháp để chế ngự các việc đào tẩu : Các người tù nhân được tập họ bằng cách thức mỗi hàng có 5 người. Nếu để có một người đào tẩu bốn người còn lại sẽ bị đưa ra xử bắn. Và y còn hăm dọa là sẽ xửbắn luôn cả các người của hàng đứng trước cũng như hàng đứng sau có người đào tẩu . Hành động này đã làm bất mãn các đồng đội của ông, nhưng Vayo, tuy là bị tước quyền chỉ huy nhưng lại được thăng cấp và được giao cho chỉ huy một trại tập trung chính ở vùng Catalogne, đó là trại Onells de Nagaya ở trong tỉnh Lérida.

Con số các người bị bắt giam, được ước lượng do nhiều người :Katia Landau đưa ra con số 15000 tù nhân bị bắt giam ở trong các khám đường chính thức và bí mật, trong số này có 1000 người thuộc đảng POUM. Yves Lévy sau các cuộc điều tra tại chổ đã đưa ra con số là khoảng 10 000 người tù nhân cách mạng, thường dân và quân nhân bị giam cầm thuộc đảng POUM, tổ chức CNT và FAL. đã có nhiều người đã chết vì bị hành hạ xấu như : Bob Smile phóng viên độc lập của báo Labour Party ở bên cạnh đảng POUM, như trường hợp của Manuel Maurin ? em của Joaquin Maurin đã bị quân của tướng Franco bắt làm tù binh và nhờ vậy đã được sống sót, Manuel Maurin ở khám đường kiểu mẫu tại Bacelona. Cuối năm 1937, theo như Julian Gorkin tại khám đường Santa Clara đã có 72 người bị tuyên án tử hình.

đảng POUM đã bị phá tan, các người thuộc đảng xã hội đã bị loại ra hay đã bị lung lạc , còn lại các người vô chính phủ. Trong những tháng đầu các người cộng-hòa đã chống trả lại pronunciamiento của tướng Franco và dưới ảnh hưởng của các người cộng hòa tại vùng Aragon các đoàn thể nông nghiệp đã tập họp lại. Vài tuần lễ sau tháng 5 năm 1937, các thành phố và các làng xã đã bị các vệ binh xung phong chiếm đóng. Đại hội các đoàn thể nông nghiệp dự đînh được dời lại một ngày khác và đến ngày 11 tháng 8 một sắc lịnh được ban ra giải tán Hội đòng vùng Aragon. Chủ tịch của hội đồng Joaquin Ascaso bị tố cáo là đã ăn trộm nữ trang, đã bị bắt giam và được thay thế bởi một viên toàn quyền cai trị tên là José Ignacis Mantacon, một thành viên của tả phái cộng hòa nhưng thiệt ra là một tàu ngầm của cộng sản. Đó là một cuộc tấn công thẳng vào tổ chức CNT với dụng ý là phá hoại ngấm ngầm các căn bản của ảnh hưởng tổ chức CNT.
Sư đoàn 11, dưới sự chỉ huy của tên cộng sản Enrique Lister đã làm nhiều cuộc đổ máu ở Castilla như : hành quyết các người tự do tuyệt đối , bạo động chống lại các tập đoàn nông dân tập thể hóa . Sư đoàn 27 còn có tên là Karl-Marx của PSUC và sư đoàn 30 đã dùng võ lực để giải tán các tập đoàn nông dân. Hàng trăm người tự do tuyệt đối đã bị bắt hoặc đã bị loại ra khỏi các hội đồng thành phố và được thay thế bởi các người cộng sản, trong lúc đó các vùng đất đã canh tác tập thể được trả về và chia lại cho các người chủ củ. Hành động này được phối hợp với việc loan tin một cuộc tấn công đại quy mô vào thành phố Saragosse để có cách chứng minh việc quét sạch các vùng hậu tuyến hầu để sửa soạn cuộc tấn công. Mặc dầu đã xảy ra cuộc tàn sát cả trăm người nông dân nhưng những người này cũng tái lập lại các tập đoàn của họ. Ở vùng Castilla, tên tướng cộng sản lừng danh El Campesino ( tên thật là Valentin Gonzles ) đã chỉ huy các cuộc hành quân chống lại các người nông dân. Theo như các tin do ông César M. Lorenzo đưa ra, các hành động của El Campesino đã vượt qua quá xa các hành động của Lister. Lại diển ra các cuộc tàn sát hàng trăm người nông dân, nhiều làng xã bị thiêu hủy, nhưng tổ chức CNT đã phản ứng lại dử dội để chống lại các hành động gây hấn này và nhờ vậy đã chấm dứt được các hành động của El Campesino.

Cơ quan NKVD ra tay

Vào năm 19873 ở Espagne, cơ quan NKVD đã trở thành một loại cơ quan phụ thuộc cho bộ Nội vụ của chính phủ cộng hòa dưới tên là Grupo de Informatión . Các nhân viên người cộng sản đã kiểm soát Tổng Nha An Ninh. Mùa Xuân 1937 và mùa Hè, các tổ chức Servicio Alfredo Hertz đã hoạt động tối đa. Julian Gorkin đã gọi là một trong các vị thầy giỏi về hỏi cung và hành quyết . Cùng làm việc với Hertz có người tay chân của Ernö Gerö tên là Hubert Von Ranke, người này đã phục vụ Gerö từ năm 1930 và có một lúc làm ủy viên Chính trị của tiểu đoàn Thaelmann thuộc trung đoàn quốc tế, nay y được ủy nhiệm kiểm soát các người ngoại quốc nói tiếng Đức. Hình như, nếu là đúng theo sự thật là chính Von Ranke đã với chức vụ củ y bắt Erwin Wolf và sau đó đã thả ra, nhưng rồi một thời gian sau đã tuyệt tích .

Hai nhân viên chính phủ của Grupo de Información đã bắt giam bà Katia Landau ngày 11 tháng 9 năm 1937. Bà Katia đã kể lại phương pháp bỉ ổi đê hèn mà Von Ranke đã sử dụng : Nó là một những nhân viên đê hèn củ cơ quan GPU, lúc đó nó mang tên là Mortiz Bressler, và đã làm rất ít các cuộc tố cáo. Hắn và vợ hắn là Seppl Kapalanz đã cho bắt một người bạn vì đã nghi ngờ là người này đã biết Kurt Landau đang ở đâu và đã nói : Nếu anh không cho đîa chỉ của nó, lhông bao giờ anh ra khỏi khám đường. Nó là một kẻ thù của Mặt trận Bình dân và của Staline. Khi mà chúng tôi biết nó ở đâu, chúng tôi sẽ đi đến đó để giết nó .

Trong đêm 9 rạng ngày 10 tháng 4 năm 1937, một thanh niên người Norwège mà không ai biết đến tên là Marc Rein đã tham gia vào các phong trào cực tả của nước Norvège, anh đang cư ngụ ở trong một khách sạn ở Barcelone bổng nhiên mất tích. Vài ngày sau các bạn hữu của anh được biết là anh đã mất tích, liền báo động cho dư luận quần chúng. Marc Rein là con trai của Rafaẽl Abramocitch, một người Nga di cư và là lãnh tụ của đệ nhị quốc-tế. Tư cách của nạn nhân đã khiến cho gia đình của nạn nhân và các người bạn kịch liệt tìm kiếm để biết về số phận của nạn nhơn, đã gây ra một sự súc động lớn ở hải ngoại và tạo ra các mối bối rối cho chính phủ cộng hòa Espagne. Chính phủ Espagne bắt buộc phải ủy nhiệm cho một nhân viên của chính phủ mở cuộc điều tra và được biết là tổ chức Servicio Alfredo Hertz là thủ phạm của việc Marc Rein đã mất tích. Một cuộc tranh chấp gay gắt đã xảy ra giữa cơ quan NKVD và chính phủ Espagne , đã đưa đến việc là ngày 9 tháng 7 năm 1937, vị quốc-vụ-khanh của Bộ-trưởng Bộ-Nội-vụ đã cho thực hành trước mặt các nhân chứng một cuộc đối chất của nhân viên tình báo của chính phủ ( bí số SSI 29 ) với hai tên đồng lỏa Hertz và Gomez Emperador. Ngày hôm sau, nhân viên SSI 29 liền bị tổ chức của Hertz bắt giam. Lúc ấy văn phòng tình báo sử dụng SSI 29 còn đủ uy lực để giải thoát cho nhân viên của mình. SSI 29 tên thật là Laurencic, đã bị truy tầm ra do các nhân viên của mật vụ Franco, bị bắt và đưa ra trước tòa án binh của Franco và bị xử tử với tội danh là nhân viên của cơ quan NKVD.

Vụ Marc Rein đến nay chưa ai biết được sự kết thúc nó ra sao, và cũng không ai biết được số phận của nạn nhơn. Nhưng đã đưa đến việc là vào cuối tháng 7 trở về sau các hành động của Hertz đã không còn quá lộ liểu : Các tổ chức của y đều bị giải tán, nhưng được tái tổ chức lại dưới quyền của Victorio Sala. Bắt đầu từ 15 tháng 8, bộ trưởng Bộ Quốc-phòng thuộc đảng xã-hội tên Indalecio Prieto đã tổ chức Servicio de Investigación Militar ( SIM ) với nhiệm vụ là quy tụ tất cả các tổ chức kiểm soát chính trị và các tổ chức phản gián điệp. Trong một thời gian ngắn, tổ chức SIM đã có 6000 nhân viên. Một số nhân viên của Hertz, có trình độ đã gia nhập vào SIM. Và năm 1939, Prieto đã biểu lộ là tổ chức SIM, trên nguyên tắc là để dùng vào các việc phản gián điệp đã được tổ chức, vì các lời thúc giục của các người sô-viết và chẳng bao lâu dù là đã dùng các biện pháp ngăn ngừa, vì ngay từ lúc đầu tổ chuúc này đã do một người bạn thân tín của Prieto lãnh đạo, các người cộng sản đã đoạt được tổ chức SIM và dùng nó để thực hành các mục tiêu của họ. Dưới áp lực của các người sô-viết và các người cộng sản, đến ngày 5 tháng 4 năm 1938 Priéto bị loại ra khỏi chính phủ.
Julian Gorkin đã mô tả các hoạt động của SIM : Họ bắt mọi người tùy theo các tính hay thay đổi của họ, bắt ngang bắt ngữa, để tuân theo các kế hoạch đàn áp trả đủa về chính trị. Kẽ nào bị bắt liền bị giam vào khám đường và người ta bắt đầu nghiên cứu liền vụ xửán mà không cần điều tra. Tổ chức SIM giữ các hồ sơ, từ tháng này qua tháng khác nói là để điều tra bổ túc. Và tổ chức SIM chính là sự khũng bố đối với các vị thẫm phán và các vị luật sư cùng các ông dự thẫm khi họ biết rằng tù nhân là kẻ vô tội.
Rudolf Frei, là một người cộng sản Thụy-sĩ ( suisse ), trước kia anh là một người thợ máy và anh đã theo các lớp học của trường Lénine Quốc tế ở Moscou vào năm 1931-1932. Anh được ủy nhiệm lo việc đưa các người tình nguyện đi từ Bâle ( Thụy-sĩ ) đi sang Espagne. Theo lời yêu cầu của anh, anh đi sang Espagne vào cuối năm 1937, và phục vụ tại sở kiểm soát của SIM, đặc biệt là để theo dỏi các người dân Thụy-sĩ . Vào mùa Xuân 1938, rất nhiều người tù nhân chống phát-xít bị bắt giam ở trong các khám đường do các người cộng sản kiểm soát, đã bị cưởng bách đưa ra các mặt trận, cùng với các người tù thuộc phe của tướng Franco để làm các việc đào những giao thông hào, và các việc khác rất là cực khổ mà không có lương thực, săn sóc y-tế kèm theo sự đe dọa thường xuyên là sẽ bị bắn bỏ.

Một trong những người sống sót, đã vượt ngục được, anh tên là Karl Brauning, anh thuộc vào nhóm các người cộng sản Đức ly khai, đã biểu lộ với nhiều người bạn thân vào tháng chạp năm 1939, trên sáu tháng sau khi anh trốn thoát : Những điều mà chúng tôi đã sống từ tháng bảy rất là tàn ác và kinh khủng. Các hình ảnh trong cuốn sách của Dostoĩevski : ngôi nhà của các người chết chỉ là các bản sao lợt lạt. Thêm vào đó việc chịu đói triền miên đã đưa đến việc mê sảng. Thân thể của tôi chỉ còn một nữa của ngày trước, chỉ còn da bọc xương và lại đau ốm không còn sức lực. Vào đến giai đoạn này, biên giới giữa người và con thú không còn nữa. Người ta đã đạt được đến giai đoạn đầu của sự dã man. - ! Các người phát-xít còn phải học hỏi thêm rất nhiều ở cái thằng ăn cướp này và các người phát-xít còn có thể tự cho mình xa-xí là đã còn giữ lại một ít văn hóa. Có lẽ các người cộng sản đã ghi trên hồ-sơ của anh : cần phải tiêu diệt thể xác bằng các phương tiện hợp pháp . Đó là việc người ta đã toan tính cho tận cùng.

Tái diễn lại tại Barcelone một Tòa án ở Moscou

Mặc dầu đã tái tổ chức lại các cơ cấu, cơ quan NKVD đã gặp một vài chướng ngại vật, do các việc xâm nhập trá hình :Sau khi đã chịu đựng các cuộc đàn áp dả man, đảng POUM đã nhận được sự trợ giúp của các nhóm người cách mạng Espagne ; họ tổ chức thành một hiệp hội bảo vệ các người cách mạng bị cầm tù ở Espagne trong các khám đường của chính phủ cộng-hòa. Các hành động quần chúng công khai diễn ra để chống lại các hành động đen tối và đầy tội ác của các người sô-viết. Đó là 3 phái đoàn đã đi đến tại chổ để mở các cuộc điều tra. Phái đoàn thứ ba do John MacGovern thuộc đảng Lao-động dộc-lập và giáo sư Felicien Challaye đã có thể viếng khám đường ở Barcelone đó là cárcel modelo, nơi đây đã giam cầm 500 người chống phát-xít. Phái đoàn đã ghi chép và thâu nhập được các lời khai về các sự ngược đãi mà các người tù nhân này đã phải hứng chịu. MacGovern và Challaye đã xin tha cho lối 12 người tù nhơn. Hai ông này cũng đã cố gắng để đi thăm nhà tù, nơi giam giữ bí mật của cơ-quan NKVD tọa lạc tại công-trường Junta. Dầu có được sự ủng hộ của bộ Tư-pháp là Manuel de Irijo , hai vị này đã không vào được nhà tù này. MacGovern đã kết luận rằng : Chiếc mặt nạ đã rớt xuống, chúng tôi đã vén được bức màng lên và chỉ rỏ rằng quyền lực nằm tại chổ nào. Các vị Bộ-trưởng muốn nhưng không làm được .

Ngày 11 và 12 tháng 10, các thành viên của Ủ-ban Hành-pháp của đảng POUM gồm có : Gorkin, Andrade, Gironella, Rovira, Arquer, Rebull, Bonet, Escuder đều bị đưa ra xử trước một tòa án đặc biệt trong một vụ tố tụng, đã bắt chước theo các vụ xử án tại Moscou. Trên thực tế, phiên tòa này làm vững chắc hơn các việc mà người ta muốn phải tin, các cuộc tố cáo ở URSS chống lại các người đối nghịch mà người ta gom lại, dưới chữtổng quát là các người trốt-kít. Nhưng tất cả các người tranh đấu kể trên, đã phản đối chống lại những lý lẻ dùng để buộc tội họ. Các danh nhân ngoại quốc gồm có : Andre Gide, Georges Duhamel, Roger Martin de Gard, François Mauriac và Paul Rivet, đã gởi bằng điện tín một thông điệp cho Thủ-tướng Juan Negrin, đòi hỏi là tất cả các người bị cáo phải được hưởng các sự bảo đãm về pháp lý. Các lời tố cáo đã dựa trên các lời khai đã bị cưởng đoạt, cuộc xửán đã trở thành sự hổn độn nơi các người tố cáo. Các báo chí cộng sản đòi phải kết án tử hình, nhưng không có án tử hình nào được tuyên ra. Các người tranh đấu của đảng POUM đã bị kết án với 15 năm tù giam, trừ Jordi Arquer bị xử11 năm tù giam và David Rey. Bản án này được tuyên ra vào ngày 2 tháng 11, vì tội đã đăng tin vu khống trên báo La Batalla là chính phủ cộng-hòa Espagne đã chịu các lịnh của Moscou, và truy tố tất cả mọi người không chịu theo lịnh của Moscou, và coi đây là một lời nhận tội.

Vào tháng 3 năm 1939, chính phủ cộng-hòa đã thua trận chiến, các người có trách nhiệm của SIM mưu toan giao các người bị kết án cho phe Franco để phe này xửbắn các người này, với toan tính là để cho các kẻ thù của chính phủ cộng-hòa làm xong cái việc dơ dáy này, mà các nhân viên của NKVD đã không hoàn thành được. Nhờ được sự mai mắn, các người sống sót của Ủy-ban Hành-pháp đảng POUM đã vượt thoát được.

Trong hàng ngũ của trung đoàn quốc-tế

Tiếng vang ở trên toàn thế giới, của cuộc chiến đấu nơi những người cộng hòa đã khiến một số người tình nguyện, và tự nhiên quyết định đi sang Espagne để chiến đấu chống lại các người quốc-gia, và đã gia nhập vào các đoàn quân tự vệ hay các đoàn quân do các tổ chức. Họ đã thâu nhận được cảm tình của các người tình nguyện. Việc thành lập các trung đoàn quốc tế là do sáng kiến của Moscou và đã trở thành một đạo quân của cộng sản, dù tại đây họ đã khộng tập họp được tất cả những người cộng sản. Nhưng phải phân biệt được các người chiến sĩ đã ra đi tuyền tuyến và các người thuộc về bộ máy tại hậu phương, không đi chiến đấu. Vì lịch sử của các trung đoàn không thể chỉ tóm tắc ở các trận giao phong anh hùng của các chiến sĩ nơi các trung đoàn.
Vào mùa Thu-Đông năm 1936 các trung đoàn này đã bành trướng mau lẹ, với quân số của hàng chục ngàn người từ khắp nơi trên thế giới đổ về. Với các người cộng sản họ chỉ chấp nhận việc gia nhập của các người này, sau khi thi hành các sự kiểm soát. Họ muốn tránh các sự xâm nhập của các điệp viên hàng hai của tướng Franco, quốc-xã hay những cái khác. Và mau chóng, các người cộng sản kiểm soát tất cả các người tình nguyện về trình độ giáo điều chính thống của họ, trong khi ấy thì cuộc đại khũng bố đang diễn ra ở Moscou và trên toàn nước Nga. Dịch vụ nơi những cán bộ của các đảng cộng sản của các nước được ủy nhiệm để điều khiển cuộc đấu tranh chống lại những kẻ khiêu-khích, nghĩa là tìm ra các người cộng sản ly khai, các người bị phê bình và vô kỹ luật. Họ còn có bổn phận tuyễn mộ các người cộng sản tình nguyện ở ngoại-quốc : Cơ quan công-an Thụy-sĩ ở Zirich đã bắt được trong người của tên cộng sản người Đức tên là Alfred Adolf, dấu một danh sách tố cáo với các người sô-viết ở Espagne, danh sách các người tình nguyện mà người ta không muốn có.

Trong một tài liệu mà ủy ban hành pháp của tổ chứ Komintern đề ra từ mùa Thu 1937, đã ra lịnh phải trừ bỏ ra khỏi các trung đoàn các phần tử về chính trị thuộc về loại đáng nghi ngờ và kiểm soát việc tuyển lựa các người tình nguyện ; hầu tránh việc xâm nhập vào đội ngủ của các trung đoàn các nhân viên tình báo, các gián điệp phát-xít và các người trốt-kít. Đó là vì sao hồ sơ cá nhân của mỗi người tình nguyện lại nằm trong các hồ sơ lưu trữcủa tổ chức Komintern ở Moscou hiện có hàng vài chục ngàn hồ sơ.
Đến nước Espagne vào tháng 6 năm 1936, đảng viên cộng sản Pháp André Marty được coi là đại diện của tổ chức Komintern ở bên cạnh chính phủ cộng-hòa. Ông là thành viên của văn phòng chính trị của đảng cộng sản Pháp-PCF, và là thơ ký của tổ chức Komintern và cũng giữ vai trò chủ nhân ông chính thức của căn cứ Albacete, tại nơi đây đã tổ chức thành lập các trung đoàn quốc tế. Song song với các trung đoàn, các người cộng sản đã thành lập liên đội 5 dưới sự chỉ huy của Enrique Lister, người này đã ở URSS vào năm 1932 để thụ huấn tại viện đại học quân sự Frounzé. Lẽ dỉ nhiên là cơ quan SIM cũng hiện diện ở Albacete.

Tính rộng lớn của các cuộc thủ tiêu, các người tình nguyện thuộc các trung đoàn cho đến ngày nay còn là đầu đề của các cuộc tranh luận. Có vài người đã chối cải các trách nhiệm của Marty, dù đã có các chứng cớ hiển nhiên đè trên các hành động của Marty, và các chứng cớ khác để minh giải các trọng trách của Marty. El Campesino đã giải thích : Không còn nghi ngờ gì Marty đã phải trừ bỏ các phần tử nguy hiễm. Ông này đã ra lịnh hành quyết vài người, việc này không chối cải được, nhưng đó là các người đã phản bội, đào ngũ hay đã ám sát một người khác . Một nhân chứng Gustave Regler đã từng làm ủy viên phó của trung đoàn 12 đã xác nhận các phương pháp này : Trong cuộc giao tranh gần Escurial, hai chiến sĩ của trung đoàn ( 2 người này khi trước thuộc phe vô chính phủ ) đã thối chí, Régler đã ra lịnh bắt giam 2 người này và đề nghị gởi 2 người này vào viện nghĩ dưỡng sức. Ông Régler đã báo cáo cho Marty và ông này đã quyết định gởi 2 người chiến sỉ đi Alcalá de Henares. Chỉ mãi lâu về sau này, Régler mới được biết là Alcalá de Henares không phải là một viện nghỉ dưỡng sức, mà là nơi trú quân của một phân đội chiến sĩ người Nga chuyên việc hành quyết .

Trong các văn khố tìm được ở Moscou, người ta đã tìm thấy một bản viết tay, với chữ ký của Marty, để giải thích cho ủy ban trung ương đảng cộng sản PCE : tôi đã lấy làm tiếc việc người ta đã gởi trở về Valencia các tên gián điệp và các tên phát-xít, mà đáng lẽ người ta phải gởi họ về Valencia để thủ tiêu. Các anh cũng hiểu rằng các trung đoàn quốc tế không thể làm được việc này ở tại đây , ở Albacete . Người ta cũng hiểu là việc hành quyết các tên gián điệp hay là phát-xít không phải là một chuyện dể làm ; ngay ở trung tâm một căn cứ quân sự và người ta cũng không hiểu là Marty muốn chỉ định đến một người nào ; nhưng trong các trường hợp, Marty đã không muốn làm cái việc bẩn thiểu này và muốn để ở một nơi khác, một người khác thay thế làm các việc này, nhưng sẽ không vì vậy làm giãm bớt các trách nhiệm về tinh thần và luân lý của Marty.

Một cuốn phim sản xuất vào tháng 11 năm 1937, đã diển tả lại cảnh một cuộc hành quyết của Erich Frommelt, chiến sĩ của tiểu đoàn Thaelmann , thuộc về trung đoàn 12 đã bị tuyên án tử hình vào hồi 23 giờ 15 và bị hành quyết vào ngày hôm sau vào lúc 16 giờ 45. Nhưng chính thức, Frommelt đã tử trận trong trận đánh ở Téruel. Một việc giấu diếm như vậy khiến người ta phải đặt câu hỏi về loại các người đào ngũ. Chiến sĩ trung đoàn tên Roger Codou người Pháp, đã có dịp tham khảo các hồ sơ ở trong nhà tù của các chiến sĩ các trung đoàn, đã nhận thấy xảy ra nhiều vụ chết đuối và theo sự suy tư của Codou đã che dấu các vụ hành quyết đơn giản. Hai khám đường được dành riêng cho các chiến sĩ của những trung đoàn : Một ở trong ở khu Harta ở Barcelone với 165 người bị giam vào năm 1937 và một ở Castellon de la Plana. Rất khó mà biết được con số của các chiến sĩ trong các trung đoàn đã bị thủ tiêu. Julian Gorkin đã tố cáo Anfré Marty là người chịu trách nhiệm và chỉ riêng y mà thôi về việc thủ tiêu lối 500 người vì tội vô kỹ luật hay là bị nghi ngờ là lợi dụng thời cơ.

Từ Glasgow thuộc nước Anh, Robert Martin đã nhận thấy ở Albacete thường xảy ra các cuộc bắt giam. Chính Martin cũng bị bắt giam với 70 chiến sĩ, trong số này có nhiều người bị thương tích. Việc giam cầm ở đây đã diển ra rất là khốn khổ, đã khiến các người bị giam cầm đã tuyệt thực để phản đối. Mặc dầu đã có tin là họ sẽ được trả lại tự do, các người được phân ra thành các nhóm nhỏ và đưa đi Barcelone. Robert Martin và các người bạn tù được đưa về Hôtel Falcon, trụ sở củ của đảng POUM đã được biến đổi thành nhà tù, và sau được đưa sang Calle Corsiga, nơi đây họ đã được chụp hình và lấy dấu tay. Một phép lạ đã giúp Georges Martin vượt ngục được và anh đã chạy trốn sang nước Pháp, và từ đó trở về sau anh không được biết gì cả về số phận các người Bạn tù của anh.

Anh Max Reventlow đã thuật lại là trong lúc lui quân liên tục, các toán quân cộng-hòa đã đem theo lối 600 người tù, khi phòng tuyến án ngữ của họ đã bị quân của tướng Franco xuyên thủng ở nhiều nơi. Các toán quân cộng hòa lui quân về hướng biển Méditerranée, các toán quân của trung đoàn quốc tế cũng rút về vùng Catalogne. Về đến nơi sau này số 600 người tù đã bị giam ở Horta và Castellón, hai nhà tù dưới sự quản đốc của Copic người Croate, và khi số người này vừa đến nơi đã bị xửbắn hết 16 người. Ở trong các nhà tù, các ủy ban đã tuyên án tử hình mà không có công lý hay một can thiệp nào : Sau khi xảy ra cuộc vượt ngục của 50 người tù, các ủy ban này đã ra lịnh xửbắn 50 người tù khác. Việc tra tấn các tù nhân xảy ra thường xuyên ; trung úy người Đức Hans Rudolph đã bị tra tấn liên tục trong sáu ngày : tay và chân đều bị gảy, các móng tay đều bị nhổ hết và đã bị hành quyết ngày 14 tháng 6 năm 1938 với 6 người tù khác bằng cách bị bắn đằng sau đầu một viên đạn. Về sau tên Copic bị đüa ra xửtrước tòa án, vì bị tố cáo là làm gián điệp, hắn được em của hắn là đại tá Vladimir Copic, của de Luigi Longo Marty can thiệp nên được tha bổng.

Vì đã giết một tên lính SS của quân lực Đức, anh Hans Beimler một vị dân biểu Đức người cộng sản đã bị giam vào trại Dachau và anh đã vượt thoát khỏi trại giam này và đi sang Espagne để tham gia cuộc nội chiến ở đây và tham dự vào việc tổ chức tiểu đoàn Thaelmann . Anh đã tử trận ở Palacete ngày 1 tháng 12 năm 1936. Gustav Regler đã quả quyết là Beimler đã bị chết bởi một viên đạn của quân Franco. Người bạn gái của anh Antonia Stern đã nói ngược lại : Beimler đã phê bình và chỉ trích các vụ xử án lớn ở Moscou do Staline đã ra lịnh và thêm nữa là anh đã liên lạc lại được với các người đảng viên cộng sản KPD là Ruth Fisher, hai người này đang hoạt động với một nhóm người chống đối ở Paris. Cô Antonia Stern đã bị tước đoạt tất cả các tài liệu riêng và giấy tờ của cô và bị trục xuất ra khỏi nước Espagne. Căn cứ trên bản phúc trình của Servicio Secreto Intelligente, một ban đặc biệt của công an vùng Catalogne, ban này có các người điềm chỉ riêng trong hàng ngủ cộng sản, ông Pierre Broué trong quyển sách viết chung với Julian Gorkin thiên về ý nghỉ đó là một cuôbc ám sát. Các trung đoàn quốc tế đã quy tụ một số đông chiến sĩ nam và nữ trong hàng ngũ của họ. Các người chiến sĩ này với lý tưởng liên kết với nhau và quảng đại và họ đã sẵn sàng để tự hy sinh tính mạng của họ. Một lần nữa, Staline và các tổ chức của ông đã khai thác vô liêm sĩ tấm lòng cao cả của các người chiến sĩ này và sau cùng đã bỏ rơi các chiến sĩ của trung đoàn quốc tế mặc cho số phận buồn thãm của họ và luôn cả nước Espagne : Staline bắt đầu cuộc chuẩn bị để lại gần Hitler.

Cuộc đi đày xứ xa và cái chết ở tổ quốc vô sản

Sau cuộc bại trận của chính phủ cộng-hòa Espagne, Togliatti đã tổ chức ở Paris vào tháng 3 năm 1939 một ủy ban để tuyển lựa các người dân Espagne được phép đi sang di trú ở tổ quốc các người vô sản. Và sau đây El Campesino đã mô tả ở trong các điều kiện nói về chuyến đi của ông qua lãnh thổ URSS. Ngày 14 tháng 5 năm 1939, từ bến Havre ông đã lên tàu Sibéria cùng với 350 gồm có các thành viên của văn phòng chính trị và của ủy ban trung ương của đảng cộng sản PCE, các vị dân biểu cộng sản, các vị chỉ huy trung đoàn 5 và lối 30 vị chỉ huy của các trung đoàn quốc tế. El Campesino đã dự kiến việc tái tổ chức lại ủy ban trung ương đảng cộng sản PCE dưới sự che chở của các nhân viên của cơ quan NKVD. Tân ủy ban này có nhiệm vụ kiểm soát số người là 3 961 người tị nạn dân Espagne và được chia ra là 18 nhóm, được phân chia đi đînh cư ở nhiều thành phố khác nhau. Trong lúc sống ở xứ lạ, ủy ban này có nhiệm vụ gián điệp kiểm soát và tố cáo các đòng bào, các đòng chí của mình như trường hợp viên cựu thơ ký đảng PCE ở Jaén đã tố cáo để bắt giam nữa số các người dân Espagne di cư sang sinh sống ở tỉnh Kharkov, hay là tên Cortina đã tố cáo để đưa đi lưu đày ở Sibéria nhiều phế nhơn. El Campesino bị đuổi ra khỏi viện đại học quân sự Frounzé vì bị tố cáo là có khuynh hướng trốt-kít và đã phải đi làm công nhân sở xe điện dưới đất ở Moscou. Về sau ông bị đày đi Ouzbékistan, rồi sau đưa sang Sibérie cho đến năm 1948 ông đã trốn thoát được qua Iran.

Ngày 19 tháng 3 năm 1942, trong lúc vợ và con gái của ông đi vắng, ông José Diaz tổng thư ký đảng cộng sản PCE, đã nhảy từ từng lầu thứ 4 qua cửa sổ để tự tử và đã chết. Ông El Campesino cùng các bạn của ông đều tin chắc đây là một cuộc ám sát. Trong thời gian trước khi qua đời, Diaz đã viết một quyển sách nói về các kinh nghiệm đấu tranh của cá nhân ông, và ông tỏ vẽ đã bị lợi dụng và cũng đã gởi nhiều bức thư cho các nhà cầm quyền Tiflis, để phản đối cách hình phạt và đối xửtệ với các trẻ em người Espagne ở trong các trại thiếu nhi ở vùng này.

Trong thời gian xảy ra nội chiến hàng ngàn thiếu nhi Espagne đã được đưa sang URSS. Các em này tuổi từ 5 cho đến 12 tuổi. Khi chế độ cộng-hòa đã thua trận chiến, thì ở bên URSS nếp sống vật chất của các em liền thay đổi. Đến năm 1939, các vị giáo viên người Espagne cùng với các em, đã bị tố cáo là có tư tưởng trốt-kít và 60 % các vị giáo viên này đã bị bắt giam tại nhà giam Lioubanka ở Moscou. Còn các vị giáo viên khác thì bị đưa đi lao động ở các công xưỡng, El Campesino đã tiết lộ sự kiện này. Một nữ giáo viên đã bị tra tấn suốt 20 tháng liền và sau thì bị xửbắn. Số phận của các thiếu nhi trở nên khốn khổ và các giáo viên người Nga sô-viết thay thế các người Espagne. Ở Kalouga, vì không tôn trọng kỹ luật, các trẻ em dưới sự kiểm soát toàn quyền của tên Juan Modesto, một vị tướng đã phục vụ ở trung đoàn 5, và của tên Lister. Vào năm 1941, theo sự tiết lộ của Jésus Hernandez, 50% các trẻ em đã mắc bệnh ho lao, và 750 trẻ em ( tức là lối 15% ) đã chết trong lúc di tản vì quân đội Đức-quốc-xã xâm lăng đã tiến tới quá gần. Các trẻ em đã được đưa về vùng Oural và vùng trung Sibérie ở Kokand. Cắc trẻ em này đã họp thành đoàn để đi ăn cắp, còn các em gái thì làm mãi dâm. Có nhiều em đã tự sát.
Cũng do sự tiết lộ của Jésus Hernandez, trong số 5000 thiếu nhi thì 2000 đã chết. Đến năm 1947, kỹ niệm 10 năm các thiếu nhi này đến đất Nga. Một cuộc lễ đã được tổ chức ở rạp hát Stanilavski ở Moscou và có 2000 thiếu nhi Espagne tham dự ; sau đó 534 em được đưa trả về Espagne vào tháng 9 năm 1956. Cuối cùng chỉ còn 1500 em được trả về Espagne. Nhiều người Espagne khác đã nếm mùi sinh sống và chết ở trên đất URSS. Đó là các người lính hải quân và không quân người Espagne, không phải là cộng sản được gởi sang URSS, để thụ huấn kỹ thuật. Ông El Campesino đã được biết rõ về số phận của 218 người phi công trẻ tuổi được gởi đi huấn luyện vào năm 1938 ; theo một khóa học dài từ 6 đến 7 tháng ở Kirovabad. Cuối năm 1939, viên đại tá người Espagne tên Martinez Carton thành viên của văn phòng chính trị của đảng cộng sản PCE và cũng là nhân viên của cơ quan NKVD đã họp các sinh viên phi công lại và bắt buộc họ phải lựa chọn : Ở lại đất URSS hay là đi ra nước ngoài. Những người nào lựa chọn đi ra nước ngoài liền bị gởi đi lao động trong các cơ xưởng. Đến ngày 1 tháng 9 năm 1939 tất cả các người này đều bị bắt giam và một cuộc tố tụng được bắt đầu cho họ. Có nhiều người đã bị tra tấn, có nhiều người khác đã bị hành quyết, phần lớn đều bị kêu án từ 10 đến 15 năm và giam ở các trại lao động. Một nhóm người được gởi đi Petchoraliev, chả còn có người nào sống sót. Và kết cuộc trong số 128 người phi công này chỉ còn có 6 người sống sót.

Vào năm 1947, chỉ có vài người Espagne đi tị nạn ở URSS đã thoát khỏi ra nước này. Những người còn ở lại được yêu cầu là phải ký giấy xin ở lại URSS. Vào tháng 4 năm 1948, José Ester ( tù bị đi đày vì chính trị, số tù là 64533 ở Mauthausen ) và José Domenech ( tù chính trị bị đưa đi đày ở Neuengamme số tù 40202 ) đã tổ chức một cuộc họp báo ở Paris, nhân danh liên đoàn các người Espagne bị lưu đày, và các người bị quản thúc về chính trị Fédéración Espagnola de Déportados e Internados Politicos ) hầu để phổ biến công khai các tin tức về số phận của các người Espagne bị giam ở trại số 99 Kanraganda nằm ở tây-bắc vùng hồ Balkach thuộc Kazakhstan. Họ đã phổ biến một danh sách gồm có tên của 59 người bị đüa đi lưu đày, trong số này có tên của 24 người phi công và 33 người lính hải quân. Trong một bản tuyên ngôn ra ngày 1 tháng 3 năm 1948, hai người tù chính trị này đã tuyên bố lý do của cuộc vận động này : Đây là bổn phận khẩn thiết của chúng tôi, cho tất cả các ai đã phải chịu nạn đói và lạnh giá băng cùng với sự sầu nảo, tiêu điều dưới sự thống trị tra khảo của cơ quan Gestapo và của các tên lính SS. Và đây cũng chính là chức vụ của mọi người công dân, khi mà các câu tự do và nhân quyền của con người đã được các đạo luật ghi thành văn, phải đòi hỏi và bắt buộc, vì tình liên đới, phải giải phóng các người này vì họ đang bị sự chết chóc đang đe dọa họ nặng nề.

Sau đệ nhị thế chiến, các người cộng sản và các tổ chức đặc biệt của họ vẫn tiếp tục việc thủ tiêu các người đối lập : Ông Joan Farré Gasso cựu lãnh tụ của đảng POUM ở Lézida, đã tham gia kháng chiến ở Pháp chống lại Đức-quốc-xã. Ông bị chế độ Vichy bắt giam ở Moissac và sau khi được trả tự do, ông muốn trở về một làng nhỏ nằm ở vùng Catalogne thuộc Pháp để thăm vợ ông. Trên đường đi Montauban ông đã bị các người kháng chiến cộng sản Espagne chận bắt và đã đơn giản hạ sát ông. Việc ám sát này đã làm kéo dài cuộc nội chiến Espagne, và có thêm một hành động tai hại : sử dụng đến phương tiện ám sát và thủ tiêu, mà nạn nhân là là hàng ngàn người chiến sĩ chống phát-xít, những người quyết liệt và can đảm. Trường hợp của nước Espagne đã chứng minh việc không thể có là tách rời các tổ chức tội ác, công an và của các người cộng sản, mà mục tiêu của họ là đạt được những gì họ muốn về chính trị. Phải nhìn nhận sự thật là trong thời gian giữa hai cuộc thế chiến, bạo động vẫn thường xảy ra ở Espagne, và trận nội chiến đã cho phép các vụ bạo động tự do diễn ra , và lại còn được cộng thêm với sự hỗ trợ của các người sô-viết. Họ đã đem thêm vào sức mạnh toàn bộ của một đảng-nhà nước đã thoát thai và trưởng thành bằng chiến tranh và bạo động, để đạt được các mục tiêu đã được quyết định về quyền lợi của URSS được che dấu dưới hình thức chống phát xít .

Việc rõ ràng là Staline cùng với các người thân tín của ông đã mưu tính và với mục đích thiết thực là kiểm soát được nền cộng-hòa Espagne. Để đạt được mưu toan này, việc thủ tiêu các người chống đối tả khuynh, các người thuộc đảng : đảng xã-hội, nghiệp đoàn vô chính phủ, đảng POUM và thiên trốt-kít, cũng là việc không kém quan trọng như là việc đánh bại hay chiến thắng tướng Franco.
User avatar
TTL
 
Users Information Users Information
 

Offline

Re: Mật thư tội ác của chủ-nghĩa Cộng-sản - Le livre noir du...

Postby TTL » Sat Jan 12, 2008 3:53 am

Phần 2. Chương 19

Cách mạng thế-giới - Nội chiến và khủng bố

Cộng-sản và Khủng bố ( Rémi Kauffer)



Trong những năm thuộc các thập niên 1920 và 1930, phong trào quốc tế cộng sản đã tập trung tất cả các hoạt động vào việc tổ chức các cuộc nổi loạn có võ trang, và họ đã hoàn toàn thất bại.

Họ đã tạm để qua một bên hình thức bạo động này và đã lợi dụng thời cơ các cuộc chiến tranh giải phóng chống lại chủ nghĩa Quốc-Xã và quân phiệt Nhựt-Bổn, đã diễn ra trong các năm của thập niên 1940. Sang đến các năm của thập niên 1950 và 1960 lợi dụng các cuộc chiến tranh giải phóng các thuộc địa, họ đã tổ chức các đơn vị quân đội thật sự, các thân binh các toán du kích quân và dần dần lớn mạnh lên thành các đạo quân chính quy và từ đó biến thành các đạo Hồng-quân. Các diễn biến ở Yougoslave, ở Trung-quốc, ở Bắc-hàn, ở Việt-nam và ở Cambodge các hình thức của các hành động này đã cho phép những đảng cộng-sản nắm lấy chính quyền. Tuy vậy, ở Châu-Mỹ La-tinh các người du kích quân cộng-sản đã thất bại, vì sự phản ứng mạnh mẻ của các lực lượng đặc biệt của chính phủ do các người Bắc-mỹ huấn luyện và viện trợ, đã khiến các tổ chức cộng-sản của các nước dùng lại các thủ đoạn khủng bố , mà họ đã sử dụng như vụ đặc chất nổ ở tại giáo đường lớbn ở thành phố Sofia thủ đô của nước Bulgarie xảy ra vào năm 1924. Trên thực tế có việc phân chia việc khủng bố ra làm hai loại : một là việc khủng bố thông thường và một là việc khủng bố để chuẩn bị cho một cuộc nổi loạn cướp chính quyền và cùng là một nhóm người hoạt động để đạt được cả hai mục tiêu nói trên, dù đó là hai nhiệm vụ khác nhau. Danh từ được thông dụng là phong trào giải phóng quốc gia được xử dụng đã phối hợp các cuộc khủng bố, với các cuộc tấn công của các du kích quân được võ trang như lính chính quy, và điển hình là mặt trận giải phóng quốc-gia Algérie và quân-đội giải-phóng Algérie.

Trường hợp của nước Algérie, khiến cho chúng ta phải chú ý và nằm trong môi trường của các người thuộc phe Algérie thuộc Pháp , với nhản quan của họ, họ đã nhìn thấy sự nổi loạn của dân Algerie là một phong trào do các người cộng-sản ở Moscou đã hoạch định và lèo lái ; nhận định của họ đã được chứng minh bởi diễn tiến là trong những năm 1956-1957, đã xảy ra các cuộc khủng bố bằng cách đặt chất nổ ở nhiều nơi giữa trung tâm của thành phố Alger và đảng cộng-sản Algérie đã cung cấp cho người lãnh đạo của Mặt trận giải phóng quốc gia viết tắt là FLN, tênlà Yacef Saadi, những chuyên viên lổi lạc nhất về chất nổ.

Như vậy là đã chứng minh việc phong trào quốc gia đã lệ thuộc vào chủ nghĩa cộng-sản. Nhưng trên chiến địa, đảng cộng-sản Algérie đã phải chịu sự chi phối độc đoán của các vị chỉ huy của FLN. Ở các nước khác FLN đã được sự hỗ trợ không dấu diếm của Moscou. Vì các lý do chính trị Moscou tránh không muốn có các cuộc xung đột với nước Pháp, trừ các trường hợp đã xảy ra những vụ commando do các lực lượng đặc biệt của Moscou nhúng tay vào. Các vụ cung cấp vũ khí cho FLN là của Ai-cập dưới sự lãnh đạo nơi Yougoslavie bởi Tito, và đại diện cho các nước Đông-âu là nước Tchécolosvaquie đã cung cấp vũ khí và huấn luyện các chiến sĩ FLN về cách thức hoạt động trong bóng tối . Phải chăng Moscou đã tiên liệu là trong tương lai, nước Algérie về mặt chính trị sẽ gần hơn với Moscou, nhưng lập trường của FLN có sự độc lập của họ. Việc này được thể hiện là các tổ chức đặc biệt của Moscou , không hề đạt được các sự xâm nhập vào cơ quan an-ninh quân đội ( viết tắt là SM - Sécurité Militaire ) của Algérie, không như họ đã làm với cơ quan an ninh quân đội của Cuba viết tắt là DGI. Các chế độ mới coi các cơ quan an ninh là cơ quan tâm linh quan trọng hơn tất cả các cơ quan tâm linh khác. ( le saint des saints du nouveau régime ).

Một ví dụ khác về sự thận trọng của Moscou đối với các phong trào quốc gia khác, mà các mục tiêu còn trong tình trạng mờ ảo : đó là trường hợp của nước Irlande. Phần đặc hữu của tổ chức IRA ( quân đội cộng hòa Irlande ) được thành lập ở Dublin trong cuộc nổi dậy bị thất bại vào năm 1916, nhân mùa Phục-sinh, chủ nghĩa cộng hòa là một ý thức hệ có một đặc tính riêng biệt của người Irlande, ta cần phải có một suy tư. Không để qua một bên vấn đề xã hội, vấn đề này đã để qua một bên vấn đề quốc gia sau năm 1921 việc thống nhất hòn đảo này, và đạt được việc đòi lại sáu quận thuộc quyền của Vương quốc Anh, và hiện nay là trọng tâm của mọi hành động đấu tranh. đảng cộng-sản Ireland chỉ mới được thành lập vào năm 1933 và là nhóm thân sô viết hiện nay, đã dần dần tách ra đấu tranh cho chủ nghĩa quốc gia mà lại thiên về đấu tranh giai cấp.

Tổ chức IRA muốn có được vỏ khí để chống lại người Anh. Trong khoảng thời gian giữa hai cuộc thế chiến, tổ chức này đã mong đợi ở sự hỗ trợ vũ khí nơi URSS. Nhiều lần Moscou đã tránh khéo vấn đề này : Vì trên vấn đề công pháp quốc tế, việc cung cấp vũ khí cho tổ chức IRA quá độc lập này sẽ được coi như một cuộc gây hấn với Anh-quốc và sẽ làm mất lòng nước này. Dù đã xảy ra việc có hàng trăm thành viên của tổ chức IRA đã tình nguyện tham gia chiến đãu trong hàng ngủ các trung đoàn quốc-tế, trong cuộc nội chiến ở Tây-Ban-Nha cũng không làm thay đổi đường lối của các người sô-viết.

Trong hai năm 1939-1940, một chiến dịch đánh phá nước Anh bằng các cuộc đặt chất nổ ở nhiều nơi đã diễn ra. Các sự hoạt động này do một nhóm nhỏ người đãu tranh quốc gia bí mật, nhưng những người này lại theo đạo cải cách ( confession protestante ) vì họ bị thuộc thành phần ít bị nghi ngờ. Nhưng nhóm nhỏ các người đấu tranh quốc gia này đã bị các người cộng-sản xâm nhập dưới sự lãnh đạo của tên Betty Sinclair. Ở toàn Âu-châu, nhiều toán người phá hoại, như nhóm do ông Ernst Wollweberg chỉ huy đã sẵn sàng để đặt chất nổ trên các chiếc tàu chở hàng của các nước Đức và luôn của Anh và Pháp. Và đồng thời Moscou cũng toan tính sử dụng tổ chức IRA. Nếu phá hoại các tàu chiến của Vương-quốc Anh, tổ chức IRA sẽ che dấu các chiến dịch của sô-viết chống lại Anh-quốc, như vậy tuy là một việc nhưng lại có lợi cho cả IRA và người sô-viết.

Nhưng sau cùng việc này cũng thất bại. Moscou đã rút được một bài học về sự nghi ngờ đối với người Irlande vì các người này sẵn sàng liên kết với tất cả các đồng minh nào có thể cung cấp tất cả các nhu cầu trang bị ( vũ khí và tiền ) mà họ cần dùng, nhưng với chính sách là từ chối quyết liệt phải trả lại một giá về chính trị, là chịu qui thuận chiến lược của họ vào chiến lược những người đã cung cấp các trang bị. Vào các năm đầu của các năm 1970, tổ chức IRA cho phát khởi lại một ngành chuyên môn của họ, là các cuộc đặt chất nổ chống lại người Anh sau khi xảy ra các cuộc nổi loạn ở các ghetto ( khu ở riêng biệt ) của các người theo đạo Gia-tô-giáo-catholique ở vùng Bắc Irlande. Trái lại là các tin đồn hoang đường, các chất nổ dùng trong các cuộc đặt bom này không phải do người Nga cung cấp gián tiếp hay trực tiếp. Trong các việc xảy ra, những người nâng đở chính là những người dân Irlande di cư sang ở Bắc-mỹ và nằm trong cộng đồng các người Irlande cư ngụ ở đây hơn là từ các nước Nga hay Đông-âu.
Bàn tay của Moscou không phải là ở khắp mọi nơi .

Nhưng dù sao bàn tay này cũng có một vai trò tích cực, trong việc hỗ trợ dưới một vài hình thức nào đó của các cuộc khủng bố ở Trung-đông. Xuất phát từ các cuộc nhận định và phân tích về các tổ chức đấu tranh của các người Palestine tượng trưng cho cuộc mưu đồ giải phóng quốc gia giống như tổ chức FLN của Algérie, các người sô-viết đã sớm chính thức nhìn nhận tổ chức OLP của Yasser Arafat và thành phần chính phủ của tổ chức này là tổ chức này El Fatah. Nhưng cơ quan KGB vẫn có các sự chú ý với một thành phần của tổ chức OLP, có mộbt khuynh hướng khác về khuynh hướng quốc gia Palestine la FPLP ( mặt trận giải phóng miền Nam ), do bác sĩ Georges Habache, ông này đã tự nhận mình là thuộc về ý thức hệ mác-xít cấp tiến, tổ chức này được cấu tạo một cách chặc chẻ, đã hoạt động và tổ chức các cuộc đặc chất nổ cùng mưu sát hay các cuộc phá hoại. Đã nhìn nhận là thủ phạm những việc cướp phi cơ chuyên chở hành khách trên các đường bay quốc tế. Được phát động vào tháng 7 năm 1968 và khởi đầu là việc đánh cướp chiếc máy bay Boeing của hãng hàng không El Al của Do-thái, rồi đến tháng 12 năm 1968 với việc đặc chất nổ ở phi cảng Athènes và cao điểm của các cuộc khủng bố này là việc đánh cắp 3 chiếc phi cơ chở hành khách, và buộc 3 chiếc này phải đáp xuống phi trường nhỏ ở Zarka, nằm ở trong bãi sa-mạc của Jordanie. Sau đó, vì các bất đồng chính kiến, các lực lượng võ trang của tổ chức OLP đã xung đột với quân lực của Hoàng-gia Jordanie và các lực lượng võ trang OLP đã thua trận và phải lui quân ra Liban. Về ba chiếc phi cơ bị đánh cướp và các hành khách bị giữ làm con tin, đó là chiếc phi cơ Boeing của hãng hàng không Mỹ TWA, chiếc phi cơ DC8 của hãng hàng không Thụy-sĩ Swssair và chiếc phi cơ Viscount CC 10 của hãng hàng không BOAC của Anh-quốc. Vụ cướp phá 3 chiếc phi cơ này xảy ra trước các cuộc xung đột giữa các lực lượng võ trang OLP và quân lực của hoàng-gia Jordanie.

Vì lo ngại trước việc xảy ra các cuộc khủng bố quá mức này, một cán bộ của tổ chức OLP là Nayef Hawatmech, đã tách rời ra khỏi tổ chức này và lập ra một tổ chức khác vào năm 1970-1971 đó là tổ chức FDPLP ( mặt trận dân chủ và nhân dân để giải phóng Palestine ) Với chủ đích là : vận động đại khối dân chúng và quốc tế hóa vô sản, tổ chức này càng ngày càng đi theo đường lối của các người cộng-sản chính thống ( communiste orthodoxe ), đã từ bỏ đường lối khủng bố mà đã một thời họ sử dụng. Như vậy tổ chức FDPLP đã trở thành một đồng minh của các người cộng-sản Palestine. Nhưng ngoài mặt, sự nghịch lý là cơ quan KGB đã gia tăng sự giúp đở cho tổ chức FPLP. Nhưng có những chuyện cũng xảy ra, là người khủng bố bao giờ cũng có một người khác hành động khủng bố hơn. Đó chính là bác sĩ Goerges Habache đã bị quá độ hay nói nôm na hơn là bị qua mặt bởi người cộng tác tin cẩn và là cánh tay mặt của bác sĩ tên là Waddi Haddah, một cựu nha sĩ tốt nghiệp ở đại học đường của Mỹ ở Beyrouth, vì Haddah là người chỉ huy các cuộc tổ chức khủng bố mà chính bác sĩ Georges Habache lãnh đạo.

Nha sĩ Haddah là một người có rất nhiều kinh nghiệm về tổ chức các cuộc khủng bố. Theo các sự nhận định của ông Pierre Marion trưởng phòng phản gián nước ngoài, đó là cơ quan DGSE và cũng là cơ quan đặc biệt của Pháp. Haddah, là người sáng tạo ra chế độ khủng bố hiện đại : chính Haddah đã sáng tạo ra các cấu tạo và cũng chính ông đã huấn luyện các người chỉ huy có trách nhiệm, và cũng chính ông đã cải thiện các công thức tuyển mộ và đào tạo và cũng chính ông đã tinh luyện các chiến thuật và các kỹ thuật. Cuối năm 1973 đầu năm 1974, ông đã tách rời ra khỏi tổ chức FDLP để tổ chức các cấu tạo riêng của ông và đặt tên là FDLP-COSE ( FDLP- ban chỉ huy các hành động ở các nơi ngoài tổ chức ), hoàn toàn đảm nhiệm các vụ khủng bố quốc tế trong lúc tổ chức của Habache cố gắng để hoạt động trong các lãnh vực khác như : mưu toan tổ chức các cuộc chiến đấu du kích với quân lực Israel và vận động quần chúng trong khối dân Palestine còn sống ở trong các trại tị nạn người Palestine. Các trại tị nạn này ở rải rác trong những vùng Jordanie, Liban, Egypte và vùng Gaza.

Tuy vậy, cơ quan KGB cũng quyết định ủng hộ các tổ chức kể trên, căn cứ trên văn thư không giấu sự thật đề ngày 23 tháng 4 năm 1974 dưới số 1071-1/05 gởi cho chũ tịnh Leonid Brejnev ( văn thư riêng ) : Ủy ban an ninh nhà nước đã từ năm 1968, có các sự liên lạc mật với Waddi Haddah, thành viên của văn phòng chính trị của tổ chức FPLB, đồng thời cũng là trưởng ban công tác các hành động ở các nước ngoài. Nhơn cuộc hội kiến với vị chỉ huy của mạng lưới KGB ở Liban, Waddi Haddad đã tín cẩn trình bày chương trình về các kế hoạch hoạt động phá hoại, khuynh đảo và khủng bố cùng các điểm cốt yếu được trình bày theo đây.

Và tiếp theo là một danh sách của các mục tiêu, các hoạt động khủng bố và phá hoại trên lãnh thổ của Israel, tấn công vào các doanh nghiệp liên hợp về kim cương ở trên thế giới, ám sát các nhân viên ngoại giao của Israel, phá hoại các cơ xưởng và các giếng dầu Arabie Saoudite, phá hoại các chiếc tàu chở dầu to lớn chạy ở vịnh Persia và luôn cả ở HongKong. Cơ quan KGB đã chính thức xác nhận điều này.

Ông Waddi Haddad đã yêu cầu giúp đở tổ chức của ông để có được các loại vũ khí đặc biệt, cần thiết cho các hoạt động khuynh đảo mà ông dự trù : Hợp tác với chúng ta, ông yêu cầu chúng ta giúp đở ông, Waddi Haddad biết đích xác là chúng ta bài xích trên nguyên tắc sự khủng bố và không đặt cho chúng ta các câu hỏi dính líu về các hành động về các hành động của FPLP. Tự các liên lạc với Waddi Haddad đã cho phép chúng ta dặt các biện pháp để kiểm soát các hoạt động của các công tác mà FPLP ở nước ngoài, và đạt được những ảnh hưởng có lợi cho chúng ta. Thực hiện cho quyền lợi chúng ta, nhờ vào các lực lượng tổ chức này, các công tác tích sản, mà vẫn tôn trọng giữ được hoàn cảnh cần yếu. Đây là một ví dụ quá tốt về việc sử dụng hai ngôn ngữ, và việc kết thúc được xuất phát từ nguồn gốc : Hảy vứt bỏ đi cho con quỷ, những nguyên tắc khi mà ta đã đánh cho địch thủ các đòn đau, mà không bị ai bắt được hay là giản dị hơn : Ném đá dấu tay .

Văn thư này được chuyển cho các lãnh tụ sô-viết cao cấp là : Souslov, Podgorny, Kossyguine và Gromyko và các tài liệu này được chuẩn y vào ngày 26 tháng 4 năm 1974 ( các tài liệu này đã được đăng bằng tiếng Pháp trên tờ báo Các Tin Tùc Từ Moscou, số 25 phát hành ngày 23 tháng 6 năm 1992 ).

Người học trò giỏi của Waddi Haddad là một thanh niên người Venézuelien tên là Ilitch Ramirez-Sanchez được nhiều người biết đến dưới biệt hiệu là Carlos. Haddad và Carlos đã cộng tác với các người sống sót của một toán người khủng bố gốc người Á-châu, đó là đạo quân đỏ của Nhật ( viết tắt là ARJ ), mà cuộc hành trình đáng cho ta học hỏi. Được tổ chức vào các năm cuối của thập niên 1960, vào thời điểm của sinh viên cấp tiến không nhượng bộ của Nhật, và cũng vào lúc cao điểm của phong trào theo chủ nghĩa của Mao-Trạch-Đông. Tổ chức ARJ liền liên lạc với các nhân viên của ban công tác Bắc-Hàn ( được biết là cộng đồng người Hàn-quốc sinh sống ở nước Nhật rất là đông, lối 4 000 000 người ). Các nhân viên công tác Bắc-Hàn đã huấn luyện và cung cấp vũ-khí cho các cán bộ của tổ chức ARJ, nhưng đã không ngăn cản được các cuộc trả thù đẫm máu giữa các phe giáo điều và đi trật chính sách, đã xảy ra vào các năm đầu của thập niên 1970. Kết quả là một sự chia rẽ : một nhóm người ARJ liền quay qua phục vụ cho Bắc-Hàn. Các người tị nạn này, ngày hôm nay ở tại Bình-Nhưởng ( Pyongyang ) đã trở thành các nhà doanh thương và là các người trung gian với phương Tây. Một phần khác của các người ARJ liền lựa chọn việc quốc tế hóa các hoạt động của họ. Họ liền đi theo Waddi Haddad. Đó là ba người của tổ chức ARJ đã hành động cho tổ chức FPLP, đã phóng tay trong cuộc tàn sát ở phi cảng Lod-Tel-Aviv / Israel diễn ra vào tháng 5 năm 1972 và giết chết 28 người.

Tổ chức FPLP-COSE đã cộng sự chặt chẽ với ông chủ nhà băng Thụy-sĩ, ông này là người của tổ chức Quốc-xã Thụy-sĩ tên là François Genoud, như ký giả Pierre Péan tiết lộ trên tờ tuần báo Expresse là con người quá khích . Theo như lời thú nhận của Genoud, thì đã không gây ra một cuộc trở ngại nào cho cơ quan KGB mà ngược lại, cũng đã không tạo ra một trở ngại nào cho các việc phát triển các hoạt động ngoạn mục của Calos : Trước là làm công cho tổ chức FPLP-COSE, sau thì làm lợi cho các cuộc tuyên truyền của cộng-sản.

Carlos : các việc liên quan với 15 sở công tác mật vụ của các nước Đông-Âu và các nước Á-Rập
Bị sở mật vụ Pháp dàn xếp với cơ quan mật vụ Soudan bắt và giao cho Pháp, việc này xảy ra ở thủ đô Khartoum-Soudan, và sau đây là lời cung khai của Carlos với ông Thẫm phán Bruguière : Vào năm 1969, tôi tên là Ilitch Ramirez, con của một luật sư người Vénézuela và là người ngưỡng mộ Lénine ( ông đã liên tiếp đặt tên các con trai của ông với các tên Vladimir, Ilitch và Oulianov ), lần thứ nhất đã gặp một nhân viên của FPLP, tên là Rifaat Aboul Aoum ở tại Moscou. Tại nơi đây Carlos là một sinh viên theo học môn chủ nghĩa mát-xít và Léninisme cùng với các môn vật lý và hóa học. Ở tại đây Carlos đã buồn vì các hoạt động của các đảng cộng-sản châu Mỹ-La tinh đã hoạt động quá yếu ớt, Carlos muốn hoạt động tích cực hơn và quyết liệt hơn. Carlos đã được toại nguyện sau một cuộc đi du lịch ở nước Jordanie và nơi đây Carlos đã gặp các tay chỉ huy của tổ chức FPLP khi y vừa đặt chân đến đây. Sau một thời gian thụ huấn Carlos đã có thể khởi đầu hoạt động vào đầu năm 1971, được đi lại dễ dàng ở các nước Đông-Âu và URSS cùng với các nước Tây Âu nhờ vào sự lịch thiệp của y là con cái của một gia đình trung lưu để thi hành các cuộc xâm nhập mưu sát đẫm máu và ngoạn mục.

Ngày 27 tháng 6 năm 1975, Carlos lúc bị xét hỏi tại nơi trú ngụ ở Paris, trong lúc các nhân viên công lực bất cẩn và không đề phòng, đã ra tay bắn chết hai công an viên Pháp thuộc sở kiểm soát lãnh thổ, viết tắt là DST và bắn bị thương nặng một viên công-an khác. Đến tháng Chạp năm 1975, Carlos cầm đầu một toán cảm tử tấn công vào trụ sở OPEP ở thành phố Vienna thủ đô nước Áo. OPEP là tên viết tắt của tổ chức của các nước xuất cảng dầu hỏa. Kết toán : Ba người chết và bắt làm con tin tất cả các đại diện của các nước tham dự cuộc hội thảo tại đây. Carlos và đồng lỏa đòi hỏi một số tiền rất lớn lối gần cả chục triệu đô la và một chiếc phi cơ cho các người con tin và toán cảm tử của y đi qua nước Algérie. Tại đây với các người của toán cảm tử, họ thả các người con tin rồi đi qua nước Libya. Các người của toán cảm tử này là các người Đức thuộc tổ cách mạng do tên Johannes Weinrich chỉ huy. Sau cuộc hành động ngoạn mục này, Carlos từ Lybia đã đi qua Yémen, rồi đi Irak và Yougoslavie. Và nhất là Đông-Đức, các cơ sở của cơ quan mật vụ Đông-Đức là STASI ( đây là tên viết tắt của Staatsi tức là an ninh của nhà nước ) đã chú ý đặc biệt đến con người quá khích này, có khả năng thực hiện các việc táo bạo. Và đã coi như là thâu nhận Carlos với tên mật mã là Séparat. Vào cuối năm 1980, một hồ sơ tối mật đã được đệ trình lên cho tướng Erich Mielke là chỉ huy trưởng của cơ quan Stasi. Hồ sơ này có tên rất là đơn giản : Kế hoạch về các cách thức của cơ quan Stasi về việc đối xử và kiểm soát các hành động của nhóm Carlos . Trong một cuốn sách nghiên cứu và phân tích của Bernard Violet Weinrich và Kopp, một người là cộng sự đắc lực đồng thời là bạn chăn gối của Carlos, và một người là cánh tay mặt của Carlos, hai người này vừa mới bị mật vụ Pháp bắt ở Pháp sau 26 năm lẩn trốn. Cả hai người này đều không phải là nhân viên của mật vụ Stasi và cũng không được lỉnh một đồng lương nào của cơ quan này. Họ chỉ là một sợi dây liên lạc giữa cơ quan Stasi và nhóm người của Carlos. Các vị sĩ quan của cơ quan Stasi là các vị Đại-tá Hary Dahl, Hörst Franz, Günter Jackel và Helmut Voigt thường hay liên lạc với hai người thân tín của Carlos và Carlos cũng biết việc này.

Carlos cũng có liên lạc chặc chẻ với các cơ quan mật vụ của nước Roumanie vì vậy y đã làm quấy rầy cơ quan an ninh nhà nước Hongrie vì Carlos có khuynh hướng dùng thủ đô Budapest làm hậu cứ. Nhóm người của Carlos đã đổi tên là : Tổ chức võ trang đấu tranh để giải phóng các người Arabe ( tức là lực lượng võ trang ), liên tiếp thực hiện các cuộc mưu hại gây tử vong. Đại tá Voigt của cơ quan Stasi đã chỉ đích danh là tổ chức Séparat là thủ phạm vụ đặt chất nổ tại trụ sở của Nhà Pháp Quốc nằm vùng phía Tây ở Berlin, việc này xảy ra vào ngày 25 tháng 8 năm 1983 và đã có 2 người chết. Theo lời của đại-tá Voigt thì nhóm người của Séparat đã có một phần trách nhiệm lớn vì đã liên lạc với một nhóm người khủng bố khác dính líu với khối Đông-Âu và đặc căn cứ ở Beyrouth, đó là tổ chức ASALA ( quân đội bí mật để giải phóng xứ Arménie ).

Việc làm hơi ngạc nhiên là cơ quan Stasi đã có nhiều hành động khoan dung, đối với các hành động của các nhóm mà cơ quan Stasi không hề sử dụng để thi hành các mục tiêu của cơ quan Stasi. Nếu chất vấn về tâm lý thì khó mà chứng tỏ về trường hợp của Erich Mielke, ông từng là chỉ huy của nhóm tranh đấu võ trang của đảng cộng-sản Đức KPD trước chiến tranh, và bị buộc tội đã giết hai người công an, cùng có các tư cách hay hành động tương tự như Carlos và các thuộc viên của nhóm toán người Baader . Vì các đường lối và quyết định của cơ quan Stasi đều do cấp chỉ huy cao hơn định đoạt. Không thể nghi ngờ được là phải đi tìm kiếm xa hơn các hội tụ có tính cách khách quan hơn về sự kiên hệ của các nhóm khủng bố quốc tế và cơ quan Stasi. Ông Mielke và các nhà lãnh đạo Đông-Đức đã thường cho chúng ta biết về sự trắc ẩn có tính cách lãng mạng của cách mạng . Vì vậy, dây không phải là một sự ngẩu nhiên khi nhóm Carlos đã có các cuộc giao thiệp liên tục với lối 15 cơ quan mật vụ của các nước Đông-Âu và Á-Rập.

Việc khoan dung của các nước cộng-sản đói với các nhóm người quá khích thuộc về lãnh vực ở Trung-Á không dành riêng cho nhóm Carlos. Vì phản đói và thù nghịch với tổ chức OLP và Yasser Arafat, lãnh tụ Abou Nidal và tổ chức El Fatah- Hội đồng cách mạng đã khởi đầu phục vụ cho các người Irak, sau lại quay sang phục vụ các người Syrie. Họ cũng hưởng được các sự khoan dung nhưng kém hơn vì rất khó kiểm soát được họ. Vị chỉ huy của El Fatah tuy là lâm bệnh cũng đã được giải phẩu ở sau bức màng sắt.

Một vụ trực tiếp liên can đến các nước Đông-Âu vào cuộc khủng bố quốc-tế hiện đại, là việc điều khiển tổ chức Rote Armee Fraktion, viết tắt là RAF mà báo chí ở Tây-Đức gọi là toán người của Baader . Xuất phát từ các cuộc bác bỏ của phong trào sinh-viên, tổ chức nhỏ này với khoảng 50 thành viên hoạt động tích cực ở trong một cao trào của hơn một ngàn người đã phóng tay phát động, vào các năm của thập niên 1970, các cuộc khủng bố có tính cách biểu diễn để chống lại các quyền lợi của Mỹ-quốc. Sau năm 1977 và việc bắt cóc và ám sát ông Hans Martin Scheleyer chủ tịch của nghiệp đoàn các người chủ nhân và giám đóc các xí nghiệp thương mãi và công kỹ nghệ ở Đức-quốc, song đến việc tự sát của các người chỉ huy nhóm toán người của Baader tên là Ulrike Meinholf và Andreas Baader, các thành viên của toán người này đã sang ẩn náu ở Đông-Đức và nhận sự lệ thuộc càng ngày càng gia tăng của cơ quan Stasi và dưới con mắt của tất cả mọi người họ đã trở thành lực lượng võ trang của cơ quan này. Sau ngày bức tường ngăn hai thành phố Berlin bị sụp đổ, đưa đến sự thống nhất của nước Đức, các người còn sống sót của toán người của Baader sinh sống ở Đông-Đức đều bị bắt giam.

Việc vận dụng cùng sử dụng các tổ chức du kích và các tổ chức khủng bố không phải là một việc dễ dàng. Phải cần có các sự khéo léo và một chính sách về chính trị rất nhạy bén. Có lẽ vì lý do này vào các năm 1969-1970, cơ quan KGB do cá nhân của một nhân vật xuất sắc là Oleg Maximovitch Netchiporenko đã cộng tác với các người Bắc-Hàn và tổ chức một phong trào do ông lãnh đạo, Movimiento de Ación Revolucionaria viết tắt là MAR, đã bị công an Mexico phá tan vào năm 1971.

Với mục tiêu nhất định, đây là một cuộc vận động khéo léo để tránh các cuộc đòi hỏi quá đáng, vô kỹ luật và các sáng kiến ngẩu nhiên của các nhóm có khuynh hướng theo chủ nghĩa của Castro hay Mao-Trạch-Đông. Một vài nhóm đã thoát khỏi ảnh hưởng của các người được coi như đở đầu hướng dẫn họ , như nhóm FRAP ( mặt trận cách mạng Ái-quốc chống phát-xít ) người xứ Espagne một thời đã ve vãn các người cộng-sản Trung-quốc, sau đến các người Albanie để có được võ khí. Nhưng các cuộc vận động của nhóm này không đi đến đâu, họ bèn tách ra và thành lập một tổ chức mang tên GRAPO ( nhóm kháng chiến chống phát-xít của ngày 1 tháng 10 ) Còn về tổ chức du kích của Abimael Guzman ở nước Pérou và lấy tên là các con đường nhỏ soi sáng , họ tự nhận là xuất phát từ nguồn gốc của chủ nghĩa Mao-Trạch-Đông nguyên thủy và cứng rắn, tứ là chiến tranh nhân dân lâu dài, nhưng trái lại họ đã chuyên chú chủ tâm ghê tởm sâu rộng đói với Đặng-Tiểu-Bình và các người lãnh đạo mới của Bắc-kinh. Tháng Chạp năm 1983, họ đã mưu toan tấn công vào tòa nhà của đại sứ Trung-quốc ở Lima thủ đô của nước Pérou.

Ở vào một vài trường hợp hiếm hoi, vì các sự rủi ro quá lớn trong thời điểm hiện đại, các nước cộng-sản đã thực hành thẳng do các cơ quan mật vụ của họ, các cuộc tấn công khủng bố. Đó là trường hợp xảy ra vào tháng 11 năm 1987, do hai công tác viên Bắc-Hàn gồm có một cán bộ nhiều kinh nghiệm tên Kim Seung Il và một nữ công tác viên trẻ tuổi tên Kim Hyoun Hê đã được huấn luyện trong vòng 3 năm ở đại học quân sự Kem Sung. Họ đã lấy vé phi cơ và đi trên một chuyến phi cơ của Korean Air của Nam Hàn bay đi Bangkok. Đến trạm hàng không Abou Dhabi họ đã xuống và ở lại đây, trước khi họ xuống phi cơ, họ đã để lại một máy thu thanh Transistor có gài chất nổ. Chiếc phi cơ này đã nổ tung trên trời khi còn bay trên vùng biển vịnh Bengale.

Kết quả : 115 người đã chết. Bị truy tầm ra tung tích và bị bắt, công tác viên Kim Seung Il đã tự sát bằng cách nuốt thuốc độc, còn nữ công tác viên Kim Young Hê thì sau khi bị bắt đã cung khai tất cả các chi tiết của cuộc khủng bố này. Nữ công tác viên này cũng đã viết một quyển sách nhưng hãy còn quá sớm để biết rỏ đâu là sự thật, đâu là sự mờ ám. Tựa của cuốn sách này là : ở trong hố của các con cọp ( Dans la fosse aux tigres ) do nhà xuất bản Presses de la Cité xuất bản vào năm 1994. Ở mọi trường hợp, sự thật đã được coi là hiển nhiên : Bắc Hàn là nước cộng-sản duy nhất, vào năm 1997 đã thực thi có phương pháp các cuộc khủng bố do Nhà Nước chủ trương.
User avatar
TTL
 
Users Information Users Information
 

Previous

Similar topics

Return to Tài Liệu Lịch Sử & Chiến Tranh VN

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 0 guests

cron